Chương 4: Bóng Người Bên Giàn Dâu

Mặt trời vừa ló rạng sau rặng tre mờ sương, rải những sợi nắng non ấm áp xuống mảnh sân đất nện trước mái nhà tranh ven xóm Thạch Thất. Nông Tú Trân chống chiếc gậy tre mộc, lom khom bưng từng chiếc nia đan bằng nứa đặt lên giàn phơi cạnh rặng dâu tằm. Những nhành ngải cứu, rễ cỏ xước và búp ổi sẻ mới sao thơm lừng mùi rơm mục quyện với khói rẫy sớm mai.

Bà đưa bàn tay già nua, gầy guộc tước đều mép lá, đôi mắt hơi nheo lại vì ánh sáng ban mai lấp loáng trên mặt sông Lam. Gió sớm từ bến đò thổi thốc vào lòng rặng dâu, mang theo hơi nước mát lạnh và cả mùi bùn non ngai ngái quen thuộc của con nước đầu ngày. Thế nhưng, giữa luồng gió mát lành ấy, chóp mũi bà bỗng khẽ lay động bởi một làn hương rất lạ, mà cũng rất đỗi thân quen: mùi trầm bài hương ủ trong gỗ lim, quyện chặt với hương lá kè non phơi khói bếp của làng nghề Cổ Mộc.

Mùi hương ấy như một chiếc gai nhọn khẽ chạm vào vết thương lòng đã ngủ yên suốt mười năm ròng.

Bà Trân khựng lại, ngón tay đang tước dở sợi bẹ chuối khô bỗng chốc cứng đờ. Bà chầm chậm ngẩng đầu lên, ánh mắt lướt qua những đọt dâu mơn mởn đẫm sương, hướng thẳng ra con ngõ nhỏ dẫn từ bến đò vào xóm.

Nơi lối mòn lát sỏi đất ven bờ sông, một bóng người gầy gò, lưng hơi còng, mái tóc râu bạc trắng như cước đang chậm rãi từng bước chống gậy tre trúc vàng tiến lại gần. Từng bước đi của người ấy ngập ngừng, run rẩy nhưng kiên định đến lạ lùng. Phía sau bóng dáng thân quen kia là một chàng trai vạm vỡ mặc áo nâu thô, trên vai quẩy chiếc đòn gánh tre uốn cong theo từng nhịp bước: một đầu là chiếc rương gỗ lim bọc đồng quen thuộc, đầu kia là chiếc tay nải bọc manh chiếu mộc.

Trái tim bà Trân bỗng nảy lên một nhịp hỗn loạn. Chiếc rương gỗ lim ấy... bà sao có thể quên được? Đó là vật gia bảo truyền đời của họ Chung, nơi cất giữ những thanh nạo tre, chiếc cưa nhỏ và những con suốt cước mà người đàn ông kia từng coi trọng hơn cả sinh mạng, hơn cả lời hẹn ước với người vợ tào khang.

Mười năm trước cũng vào một buổi sớm như thế này, bà đã gom nhặt vài manh áo cũ, gạt nước mắt bước qua ngưỡng cửa nhà gỗ Cổ Mộc chỉ vì một lời hứa bị lãng quên bên khung nón tiến kinh mười sáu vành. Mười năm sống cô quạnh bên xóm đò Thạch Thất, ngày ngày hái lá sắc thuốc cứu người, đêm đêm nghe tiếng cuốc kêu khắc khoải, bà ngỡ lòng mình đã nguội lạnh tựa tro tàn đáy bếp. Hằng chiều, bà chống gậy ra bến ngóng sang bên kia sông Lam, miệng thì bảo ra hóng gió, nhưng tận đáy lòng là nỗi hờn giận, đợi chờ một người chịu cúi đầu nhận lỗi.

Thế nhưng lúc này, khi bóng hình ấy bằng xương bằng thịt hiện ra ngay trước rào giâm bụt, lòng bà lại trào dâng một nỗi tủi hờn nghẹn ứ nơi cổ họng.

Bà mím chặt môi, cố nén giọt lệ chực dâng lên nơi khóe mắt đã chằng chịt vết chân chim. Nét mặt đôn hậu thường ngày bỗng chốc đanh lại, lạnh lùng như phiến đá bến sông. Bà cúi gằm mặt xuống chõng tre, ngón tay run rẩy tiếp tục nắm lấy sợi bẹ chuối khô, thoăn thoắt tước nhỏ từng sợi dài, vờ như mắt chẳng thấy, tai chẳng nghe, xem người vừa bước tới như kẻ xa lạ qua đường.

“Bà nội! Bà nội ơi!”

Tiếng gọi reo vui, lanh lảnh của Chung Vĩnh vang lên phá tan bầu không khí tĩnh mịch của xóm nhỏ. Chàng trai vội vã đặt gánh rương xuống cạnh bờ rào hoa cúc dại, chạy ùa vào sân, hai tay nắm lấy mép vạt áo thô của cụ bà, giọng th* d*c vì vừa leo dốc bến đò:“Bà nội, cháu là Vĩnh con đây! Mười năm rồi cháu mới được gặp lại bà, bà vẫn mạnh khỏe thế này, cháu mừng đến ứa nước mắt!”

Nghe giọng nói ấm áp của đứa cháu đích tôn, lòng bà Trân khẽ chùng xuống. Bà ngước lên nhìn gương mặt phong sương, rắn rỏi của Chung Vĩnh, trong lòng dâng lên niềm xót xa khôn xiết. Đứa trẻ này khi bà dời đi mới chỉ là một thiếu niên mười bốn tuổi gầy gò, nay đã thành một chàng trai khôi ngô, vạm vỡ, biết gánh vác việc gia đình. Bà đưa bàn tay khô ráp vỗ nhẹ lên mu bàn tay cháu, thanh âm run rẩy nhưng vẫn cố giữ vẻ trầm lắng “Vĩnh đấy à con... Mười năm không gặp, cháu đã lớn bổng thế này rồi. Đường sá sông nước cách trở, việc gì phải nhọc công lặn lội sang cái xóm nghèo này làm chi cho vất vả thân xác hở cháu?”

“Cháu sang thăm bà, cả nhà ai cũng nhớ bà lắm!” Chung Vĩnh hớn hở đáp, rồi khẽ nghiêng người, đưa tay chỉ ra phía cổng rào, giọng như muốn nài nỉ: “Bà ơi, ông nội... ông nội cũng cùng cháu sang đây tìm bà này!”

Bà Trân nghe hai chữ “ông nội” thì bàn tay đang nắm lấy tay cháu bỗng siết chặt lại một thoáng, rồi buông lơi. Ánh mắt bà lạnh băng, cố tình lướt qua khoảng không gian trước mặt mà không hề nhìn về phía cổng ngõ.

Nơi chiếc cổng rào đan bằng tre thưa, Chung Phục Lễ đang đứng chết lặng. Lão nghệ nhân trăm tuổi hai tay vịn chặt lấy đầu gậy trúc vàng, đôi vai gầy guộc run lên bần bật dưới lớp áo vải đay bạc màu. Đôi mắt mờ đục của cụ nhìn chăm chú vào người bạn đời, chan chứa nỗi hối hận và muôn vàn lời muốn nói nhưng nghẹn ứ nơi cuống họng. Cụ run run nhấc một bước chân toan bước qua bậc ngõ, chiếc gậy khẽ gõ một tiếng "cộc" xuống nền đất khô, nhưng rồi lại ngập ngừng dừng lại, không dám bước thêm nửa tấc. Cụ sợ sự đường đột của mình sẽ xua tan đi chút hơi ấm mong manh vừa nhen nhóm nơi sân nhà.

Bà Trân thấy bóng người ấy run rẩy thì tim khẽ nhói buốt, nhưng nỗi ấm ức chôn chặt mười năm lại dâng trào như sóng cuộn. Cụ bà quay lưng lại phía cổng, dứt khoát buông dải bẹ chuối xuống mặt chõng, với tay nhấc lấy chiếc nia thuốc nam vừa phơi ban nãy. Từng động tác của bà dứt khoát, gấp gáp như muốn xua đi sự hiện diện của người đứng ngoài ngõ.

Bà ôm nia thuốc vào sát mép thềm nhà, đưa tay đẩy then cài cửa bếp sang một bên. Trước khi bước qua cánh cửa liếp đan bằng tre nứa, bà dừng chân lại nửa khắc, chẳng thèm ngoái đầu nhìn lại, chỉ buông một câu lạnh lùng giữa tiếng gió xào xạc bên giàn dâu “Khách lạ ghé bến đò có việc gì thì xin cứ tự nhiên, lão già này không tiện tiếp đón.”

Nói đoạn, cánh cửa liếp tre khép sầm lại, tiếng then gỗ gài vào ổ cối vang lên một tiếng khô khốc, ngăn cách hai khoảng trời vừa mới chạm nhau.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.