Chương 16: Bóng Trăng Rằm Soi Lòng Nón

Ánh hoàng hôn vừa tắt, đêm rằm tháng Tám buông màn sương mỏng manh xuống đôi bờ sông Lam. Gió thu từ mặt nước thổi vào mát rượi, xua tan hơi nóng còn sót lại của ban ngày. Trên nền trời cao vời vợi không một gợn mây, vầng trăng tròn vành vạnh như một chiếc đĩa bạc từ từ nhô lên khỏi rặng tre phía Cổ Mộc trấn, dát ánh sáng vằng vặc xuống bến đò Thạch Thất, biến mặt sông thành một dải lụa phát sáng lung linh.

Trong khoảng sân đất trước gian nhà tranh, hương hoa bưởi thoang thoảng quyện cùng mùi lá kè nõn mới chằm tạo nên bầu không khí thanh khiết, êm dịu. Chung Phục Lễ đứng cạnh mép chõng tre, hai bàn tay run run nâng chiếc nón bài thơ mười sáu vành vừa mới hoàn thiện. Vành nón tròn đều tăm tắp, thớ lá kè trắng muốt mịn màng ôm khít nan tre cật, dải nan quai thao óng ả luồn khéo léo qua hai bên sườn. Cụ khẽ hít một hơi sâu, chỉnh lại nếp áo vải thô màu nâu sồng, bước những bước chậm rãi nhưng vững chãi về phía cụ bà Tú Trân đang đứng tựa bên gốc dâu tằm.

Chung Vĩnh đứng nép bên chái hiên, im lặng mỉm cười nhìn từng bước chân của ông nội, ánh mắt lấp lánh niềm vui.

Cụ Chung dừng lại trước mặt người vợ tào khang. Dưới ánh trăng rằm sáng trong như ban ngày, cụ nhìn rõ từng nếp nhăn nơi khóe mắt, từng sợi tóc bạc trắng như cước cài chiếc trâm gỗ xoan giản dị của bà. Bao nhiêu tủi hờn, xa cách của mười năm đằng đẵng bỗng chốc thu bé lại trong một khắc này. Cụ nâng chiếc nón lên bằng cả hai tay, giọng trầm khàn, đong đầy sự trân trọng và nghẹn ngào “Bà nó... Lão già vụng về này nợ bà một lời hứa suốt mười năm ròng. Chiếc nón tiến kinh mười sáu vành năm ấy mang lại danh tiếng cho tôi, nhưng lại làm rơi mất nụ cười của bà. Nay tôi dốc hết chút sức tàn và tấm lòng này, chằm lại chiếc nón mười sáu vành tạ tội. Xin bà nhận cho để tôi được chở che mưa nắng cho bà những năm tháng còn lại.”

Bà Tú Trân đứng lặng, ngực phập phồng sau làn áo nâu sồng đã bạc màu. Đôi mắt đồi mồi của bà nhìn chăm chú vào khuôn nón trắng tinh khôi, rồi ngước lên nhìn gương mặt phong sương, thành khẩn của người bạn đời trăm tuổi. Khóe môi bà khẽ mấp máy nhưng không thốt nên lời, chỉ có đôi bàn tay gầy guộc chầm chậm đưa lên đỡ lấy vành nón.

Cụ Chung dịu dàng đỡ lấy tay vợ, nhẹ nhàng nâng chiếc nón bài thơ lên cao rồi đội lên mái đầu bạc trắng của bà. Đôi ngón tay thô ráp mang vết sẹo trăm năm khẽ luồn dưới cằm, cẩn thận thắt dải quai thao vừa vặn, không quá chật cũng chẳng quá lỏng, đúng như thói quen hơn nửa thế kỷ trước cụ vẫn thường làm cho bà mỗi độ xuân về.

“Bà ngẩng lên soi trăng xem có ưng bụng không.” Cụ Chung khẽ giục, ánh mắt đầy vẻ hồi hộp như chàng trai trẻ thuở mới bước vào nghề.

Cụ bà Tú Trân ngửa nhẹ vành nón hướng về phía vầng trăng rằm vằng vặc trên đỉnh trời.

Ánh trăng thu trong vắt xuyên qua lớp lá kè nõn mỏng mảnh. Giữa hai lớp lá, mảnh giấy bản đỏ điều ẩn hiện rực rỡ, lung linh huyền diệu. Bóng dáng đôi chim uyên ương liền cánh hiện lên mềm mại, từng chiếc lông vũ trổ bằng kéo thép sắc nét như đang chao lượn giữa vầng sáng nguyệt bạch. Vắt ngang qua đôi cánh uyên ương là bốn câu thơ tương tư thuở hoa niên được viết bằng nét mực tàu thanh thoát “Tơ duyên kết chặt tự ngàn xưa, Mũi cước đường kim dẫu sớm trưa. Nguyện trọn trăm năm cùng sánh bước, Đầu xanh đến bạc chẳng phai mờ.”Dưới ánh trăng soi tỏ lòng nón, từng nét chữ, từng đường kim rút cước trong suốt thoắt ẩn thoắt hiện mờ ảo, lung linh tuyệt mỹ đến nao lòng. Đôi chim uyên ương như đang sống dậy, quấn quýt bên nhau giữa làn ánh sáng huyền ảo của đêm rằm tháng Tám. Chiếc nón không chỉ là một vật che mưa che nắng tầm thường, mà đã hóa thành một tác phẩm trác tuyệt, chứa đựng trọn vẹn hồn cốt của làng nghề và tấm chân tình son sắt tích tụ qua hơn một thế kỷ.

Bà Tú Trân ngẩn người nhìn từng con chữ hiện ra trong lòng nón. Những ký ức xưa cũ của ngày đầu kết tóc se duyên, những buổi chiều cùng nhau phơi lá bên bờ sông Lam, và cả nỗi cô quạnh mười năm mòn mỏi ngóng đò bên xóm Thạch Thất bỗng ùa về ngập tràn tâm trí. Tảng băng hờn giận cuối cùng trong lòng bà hoàn toàn tan rã, nhường chỗ cho sự xúc động dâng trào nơi đáy mắt.

Một giọt nước mắt nóng hổi lăn chầm chậm qua gò má đồi mồi, nhỏ xuống mép lá kè nõn nà phát ra một tiếng thật khẽ.

Cụ bà đưa tay áo quẹt vội giọt lệ, giọng run run hờn mát mà chan chứa yêu thương “Ông già này... Đã trăm hai mươi chín tuổi rồi mà còn bày vẽ câu chữ như lũ trẻ. Đường kim thì còn vụng, vành nón thứ bảy lách mũi cước chưa được khéo, làm cánh chim hơi nghiêng một chút kia kìa...”

Cụ Chung nghe vợ chê mà lòng lại ấm áp lạ thường, bởi cụ hiểu rõ thói quen khẩu xà tâm phật của bà. Cụ bước thêm nửa bước, đưa bàn tay ấm áp nắm lấy bàn tay gầy guộc của cụ bà, mười ngón tay già nua đan chặt vào nhau dưới bóng trăng rằm “Bà chê đúng lắm. Cánh chim hơi nghiêng là vì lúc chằm đến đó, tay tôi run, lòng tôi cứ sợ bà không chịu nhận... Nhưng dẫu cánh chim có nghiêng, hướng bay của nó cả đời này vẫn chỉ hướng về phía bà thôi.”

Cụ bà Tú Trân sững lại, gò má đồi mồi chợt ửng đỏ dưới vành nón lá lung linh. Bà siết nhẹ bàn tay chồng, không còn chút xa cách, ngượng ngùng nào nữa.

Cụ Chung nhìn sâu vào mắt vợ, giọng trầm ấm, chậm rãi nhắc lại ước nguyện canh cánh trong lòng “Trân muội... Ngày mai trời thu trong xanh, tôi muốn cùng bà và cháu Vĩnh lên chùa non Yên Mã. Chúng ta dâng nén hương trầm tạ ơn trời đất đã cho sống đến ngày nay, hoàn thành lời hẹn mười năm trước rồi cùng tôi trở về mái nhà xưa bên Cổ Mộc trấn, có được không bà?”

Gió sông Lam lại thổi qua bờ dâu xào xạc, mang theo hương phù sa ngạt ngào. Cụ bà Tú Trân ngước nhìn vầng trăng rằm soi bóng nước lung linh, rồi nhìn người bạn đời trăm tuổi bên cạnh. Bà khẽ gật đầu, một nụ cười rạng rỡ và bình yên nở trên môi dưới vành nón bài thơ ngời sáng, nối lại vẹn tròn mối tơ duyên trăm năm tưởng chừng đã đứt đoạn giữa dòng đời.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.