Chương 14: Giãi Bày Tâm Can Sau Mười Năm
Chung Phục Lễ nằm yên trên chiếc chõng tre, ngực phập phồng theo từng nhịp thở yếu ớt. Lớp mồ hôi mỏng trên trán dần khô đi, mang theo cái buốt lạnh của cơn cảm hàn tan biến vào không gian ấm nồng. Đôi mắt già nua của cụ chầm chậm mở to hơn, đón lấy vầng sáng vàng dịu hắt ra từ ngọn đèn dầu lạc. Mùi thơm ngai ngái, thanh sạch của bồ kết cùng rơm rạ khô vấn vương nơi góc gối quen thuộc khẽ lay động tâm trí cụ.
Bên mép chõng, người bạn đời vẫn ngồi lặng lẽ túc trực. Cụ bà Tú Trân dùng vạt áo chàm lau vệt mồ hôi rịn nơi thái dương chồng, bàn tay thô ráp khẽ siết lấy những ngón tay gầy guộc của cụ. Ở chiếc bàn gỗ góc nhà, Chung Vĩnh đã ý tứ lui ra chái ngoài nhóm lại ấm nước chè xanh, để lại khoảng trời riêng tư cho hai mái đầu bạc trắng.
Nhìn gương mặt hằn sâu vết chân chim cùng khóe mắt hoe đỏ của vợ, lồng ngực cụ Chung thắt lại. Bao nhiêu nghẹn ngào kìm nén suốt một thập kỷ dâng lên ứ nghẹn nơi cổ họng. Ngón tay cái dẫu còn nhức buốt vì vết rách quấn vải thô, cụ vẫn cố sức gập nhẹ lại, run rẩy nắm lấy bàn tay gầy của bà.
“Trân muội...”
Tiếng gọi thốt ra trầm đục, khẽ khàng mà như mang theo sức nặng của ngần ấy năm trời đằng đẵng. Cụ Chung mấp máy bờ môi khô ráp, đôi mắt ngấn lệ nhìn thẳng vào người vợ tào khang “Tôi sai rồi... Lão già vụng miệng, cố chấp này có tội với bà nó nhiều lắm. Mười năm trước, chỉ vì mải mê tranh giải nón tiến kinh, vì cái thói háo danh bướng bỉnh mà tôi lỡ hẹn chuyến đi chùa non Yên Mã. Tôi cứ ngỡ ngày rộng tháng dài, cứ nghĩ bà sẽ mãi đứng đó đợi tôi quay đầu lại. Đến khi bà dứt áo sang sông, tôi vừa ân hận vừa ôm cái tự ái hèn mọn, không dám mở miệng giãi bày một câu... Mười năm ròng, tôi để bà phải chịu đắng cay một mình nơi bến đò này...”
Từng giọt nước mắt đục mờ lăn qua gò má nhăn nheo của cụ Chung, thấm ướt mép chiếu cói. Cụ nói trong hơi thở ngắt quãng, dốc cạn kiệt nỗi lòng từng đêm chong đèn nhìn mảnh lụa kỷ vật mà cắn rứt.
Bà Tú Trân nghe từng lời tạ tội, đôi vai còng khẽ run lên bần bật. Nỗi tủi hờn bị chôn chặt dưới lớp vỏ bọc sắc sảo, dửng dưng suốt mười năm qua bỗng chốc vỡ òa. Bà đưa tay quệt vội giọt lệ chực trào nơi khóe mắt, giọng nghẹn ngào xen lẫn hờn trách “Bây giờ ông mới chịu nói ra những lời này sao? Mười năm qua, ông có thấu được cái cảnh một mình tôi thui thủi bên xóm đò Thạch Thất này không? Chiều nào tôi cũng ra bến sông, đứng dưới gốc dâu ngóng về Cổ Mộc trấn, chỉ mong thấy một bóng đò quen thuộc. Nhưng hết tuần trăng này sang mùa rẫy khác, con đò qua lại bao phen mà người xưa vẫn bặt tăm. Ông tiếc một câu xin lỗi, tiếc một lời dỗ dành đến thế ư? Người ta bảo trăm năm duyên nợ, vậy mà ông nỡ để tôi ôm nỗi ấm ức, quạnh quẽ lúc tuổi gần đất xa trời!”
Những lời trách móc như từng mũi kim châm vào cõi lòng cụ Chung, nhưng cụ không hề phân bua, chỉ im lặng siết chặt bàn tay vợ để đón nhận tất cả hờn ghen, tủi cực mà bà đã chịu đựng. Cụ hiểu, bà có oán trách, có nặng lời thì ngọn lửa ân tình trong lòng bà mới chưa từng lụi tàn.
Khóc một hồi cho vơi bớt nỗi niềm tích tụ, bà Trân hít một hơi sâu, buông tay cụ Chung ra rồi chậm rãi đứng dậy. Lưng còng tựa vào chiếc gậy tre mộc, bà bước từng bước chậm chạp về phía gian bếp nhỏ bên cạnh. Cụ Chung đưa mắt dõi theo từng cử chỉ của vợ, lòng thắc thỏm âu lo.Bà Trân với tay lên thanh xà gồ gác bếp bám đầy bồ hóng, cẩn thận lấy xuống một vật được bọc kỹ trong lớp vải điều cũ kỹ. Khi tấm vải mở ra, trước mắt cụ Chung là một chiếc nón lá đã ngả màu vàng sậm của khói bếp và thời gian. Vành nón bằng tre cật đã bóng loáng, mặt lá kè có vài chỗ sờn rách được khâu vá lại bằng những mũi chỉ thô, nhưng dáng nón hình chóp vẫn vẹn nguyên, cân đối.
Cụ Chung bàng hoàng mở to mắt, giọng run run “Chiếc nón này... là chiếc nón năm ấy...”
“Phải, là chiếc nón lá ông tự tay chuốt vành, chằm từng mũi cước tặng tôi từ sáu mươi năm trước,” bà Trân nghẹn ngào đặt chiếc nón cũ xuống mép chõng tre, đầu ngón tay khẽ v**t v* lớp lá úa màu. “Ngày dời sang đây, tôi chẳng mang theo lụa là hay của cải gì, chỉ ôm theo tráp thuốc nam cùng chiếc nón này. Mười năm qua, dù giận ông đến mấy, tôi cũng chưa từng nỡ vứt bỏ. Tôi giữ nó trên gác bếp để mỗi lần nhóm lửa lại tự nhắc mình về nghĩa tào khang thuở hoa niên... Tôi chưa bao giờ nguôi nhớ về mái nhà xưa bên Cổ Mộc trấn cả, ông Chung à.”
Nhìn chiếc nón kỷ vật sáu mươi năm vẫn được giữ gìn nâng niu, cụ Chung nghẹn ngào không thốt nên lời. Mọi bức tường tự ái, mọi mặc cảm lỗi lầm tan biến hoàn toàn. Cụ chống tay gượng ngồi dậy, bà Trân vội đỡ lấy lưng ông, để ông tựa vào thành chõng.
Hai bàn tay già nua trăm tuổi lại một lần nữa tìm đến nhau, đan chặt vào nhau không rời. Những ngón tay gân guốc, thô ráp run rẩy chạm vào những nếp nhăn sâu hoắm trên mu bàn tay người kia. Nước mắt của sự tha thứ và hòa giải hòa vào nhau, ấm áp lạ thường.
Bà Trân khẽ đưa tay áo chấm nước mắt cho cụ Chung, rồi đưa mắt nhìn sang chiếc bàn gỗ, nơi khung nón bài thơ mười sáu vành cùng mảnh giấy bản đỏ trổ hình uyên ương đang nằm ngay ngắn cạnh tráp đồ nghề. Ánh mắt bà dịu dàng trở lại, giọng nói tuy vẫn còn chút hờn mát nhưng đã đượm vẻ ân cần “Thôi, chuyện cũ mười năm qua coi như xối theo dòng nước sông Lam ngoài kia. Giờ ông lo mà nằm yên tịnh dưỡng, uống cho hết mấy bát thuốc giải cảm tôi sắc. Phải mau khỏe lại thì mới cùng thằng Vĩnh chằm cho xong chiếc nón bài thơ kia chứ. Lời thơ ông chép dở trên khung nón, tôi còn đợi ông đích thân đội lên đầu đấy.”
Cụ Chung mỉm cười, nụ cười hiền hậu làm bừng sáng khuôn mặt già nua đã hằn sâu sương gió. Cụ gật đầu thật mạnh, lòng tràn ngập niềm an yên và ấm áp mà suốt mười năm qua cụ chưa từng cảm nhận được.
Bên ngoài gian nhà tranh, cơn mưa dông đã dứt hẳn, bầu trời đêm sau bão trở nên quang đãng và tĩnh mịch. Gió đưa hương thơm nồng của phù sa sông Lam lùa qua ô cửa liếp. Vầng trăng vằng vặc nhô lên khỏi rặng tre, rọi những tia sáng trong ngần qua khe liếp tre, chiếu rọi lên chõng nhỏ nơi hai bàn tay trăm tuổi vẫn đang đan chặt vào nhau không rời.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
