Chương 13: Bát Cháo Hành Và Mảnh Lụa đáy Rương
“Ông Chung ơi… ông tỉnh lại nhìn tôi đi… ông Chung ơi!”
Tiếng nấc nghẹn ngào của Nông Tú Trân như xé toạc màn mưa giông đang quất rát mặt. Áp chặt bàn tay run rẩy lên lồng ngực gầy guộc lạnh ngắt của chồng, bà nghe rõ từng nhịp đập yếu ớt, mong manh như ngọn đèn dầu trước gió bấc. Nỗi sợ hãi tột cùng khiến trái tim trăm hai mươi sáu tuổi của bà thắt lại. Suốt mười năm giận hờn, chia lìa đôi ngả sông Lam, chưa một khắc nào bà muốn thấy người bạn đời nằm rũ rượi giữa vũng bùn lầy như thế này.
“Bà nội! Để cháu cõng ông vào nhà!” Chung Vĩnh hốt hoảng hét lên át tiếng mưa, nhanh nhẹn luồn hai cánh tay vạm vỡ nâng bổng thân hình khẳng khiu của cụ Chung lên lưng.
“Mau, mau đưa ông vào chõng!”
Bà Trân lập cập đứng dậy, đôi chân trần đạp trên nền đất nhão nhoét, vừa đỡ lấy tấm lưng còng của chồng vừa dẫn đường vào gian nhà tranh. Cánh cửa liếp vừa khép lại sau lưng, tiếng mưa gầm rú bên ngoài như bị chặn bớt một phần, nhưng hơi lạnh buốt giá vẫn bám riết lấy từng thớ thịt. Chung Vĩnh cẩn thận đặt ông nội nằm xuống chiếc chõng tre lót đệm rơm thơm mùi nắng cũ.
Nhìn vạt áo vải thô của cụ Chung ướt sũng, bết chặt vào da thịt nhăn nheo, bà Trân vội vã giục “Vĩnh con, mau cởi áo ướt của ông ra, lấy manh chiếu khô đắp kín ngực cho ông. Bà đi nhóm lửa ngay đây!”
Đôi tay gầy gò của bà thoăn thoắt gom nắm bổi khô nhen lửa vào chiếc bếp lò giữa gian nhà. Ánh lửa bập bùng bén nhanh vào những thanh củi gắp từ gác bếp, tỏa ra hơi ấm nồng đượm xua bớt mùi ẩm mốc của cơn giông bão. Bà Trân lại vội vã múc nước mưa trong vại, bắc chiếc nồi đất nhỏ lên bếp than hồng, bỏ vào nắm gạo nếp cái hoa vàng giã giập.
Bà chống gậy bước vội ra góc vườn sau chái bếp, dưới làn mưa còn rả rích, hái vội một nắm lá tía tô cùng mấy cọng hành hoa xanh mướt. Đôi bàn tay vốn quen bốc thuốc cứu người nay run rẩy thái từng sợi tía tô li ti, rắc vào nồi cháo đang sôi lục bục cùng chút gừng già giã nhuyễn. Mùi hành cay nồng hòa cùng hương tía tô ấm áp bốc lên nghi ngút, đánh thức cả gian nhà nhỏ.
Bà múc cháo ra chiếc bát sành mộc mạc, thổi từng thìa cho bớt nóng rồi bưng lại bên mép chõng tre. Chung Vĩnh nhẹ nhàng đỡ vai ông nội tựa vào ngực mình. Cụ Chung vẫn nhắm nghiền hai mắt, vầng trán nóng hôi hổi vì cơn sốt cảm hàn, nhưng đôi môi thâm tím thỉnh thoảng lại run lên bần bật.
Bà Trân khẽ ghé sát mép thìa cháo vào môi chồng, nghẹn ngào cất tiếng “Ông Chung… cố nuốt một chút cháo hành giải cảm đi ông… Tôi nấu cho ông đây mà…”
Dường như nghe thấy thanh âm quen thuộc đã khắc sâu vào tâm khảm qua hơn một thế kỷ, cụ Chung khẽ mấp máy bờ môi khô khốc, nuốt từng ngụm cháo nóng ấm. Hơi gừng cay và vị cháo thơm tho lan tỏa khắp người, kéo lại chút hơi ấm mong manh cho tấm thân già nua.
Sau khi đút hết nửa bát cháo, bà Trân cẩn thận lau khóe miệng cho chồng rồi khẽ bảo cháu “Vĩnh con, mưa ngớt hạt rồi đấy. Con chạy sang chái phụ bên bến đò mang tráp đồ của ông sang đây. Trời ẩm thế này, mấy thứ đồ nghề gia bảo ngấm nước bão hỏng mất.”
“Dạ, cháu đi ngay ạ!” Chung Vĩnh vâng lời, khoác áo tơi mở cửa lao nhanh vào màn đêm.Gian phòng chỉ còn lại tiếng củi nổ lách tách trong lò sưởi và tiếng thở nặng nhọc của cụ Chung. Bà Trân nhìn ngón tay cái của chồng vẫn còn quấn lớp vải thô lấm tấm vệt máu tươi do cố sức giữ giàn thuốc ban nãy, lòng đau như cắt. Bà quay sang mở chiếc tráp thuốc nam đặt ở góc cột cái, định tìm lọ cao xoa bóp bằng sáp ong và rễ ngải cứu để thoa cho ông. Vừa lúc ấy, nhìn sang chiếc tráp gỗ lim nhỏ đựng vật tùy thân của chồng mà Chung Vĩnh vừa đặt tạm bên mép chõng trước khi chạy sang chái phụ lấy đồ nghề, nắp tráp khẽ hé mở. Bên cạnh cuộn sợi cước trong suốt, một góc vải điều quen thuộc chợt đập vào mắt bà.
Tim bà Trân bỗng nảy lên một nhịp. Bàn tay trăm tuổi run run nhấc mảnh lụa điều lên trước ánh đèn dầu le lói. Mảnh lụa đã ngả màu thời gian, viền mép sờn rách, nhưng trên đó vẫn vẹn nguyên đường kim mũi chỉ thêu hình đôi chim uyên ương vắt qua câu thơ ước hẹn thuở hoa niên do chính tay bà thêu tặng ông ngày mới nên duyên. Trên góc lụa, những vệt ố tròn loang lổ đã khô quắt lại — đó là dấu tích của bao đêm nước mắt rơi thầm.
Cụ Chung đã đem theo kỷ vật này bên mình suốt mười năm ròng rã, giữ gìn nơi sâu kín nhất của đáy rương.
Đúng lúc ấy, cánh cửa khép hờ lay động, Chung Vĩnh ôm tráp đồ nghề cùng khung nón bước vội vào nhà. Nhìn thấy bà nội đang chết lặng bên mảnh lụa điều, chàng trai khẽ đặt khung nón bài thơ lên bàn gỗ, nhẹ nhàng cất lời “Bà nội… Ông nội cất mảnh lụa ấy kỹ lắm, tối nào trước khi ngủ ông cũng mang ra ngắm. Còn đây là khung nón ông dốc sức làm để tạ tội với bà đấy ạ.”
Bà Trân đưa mắt nhìn sang khung nón mười sáu vành tre cật uốn cong tròn vặn. Giữa hai lớp lá kè nõn mỏng manh, mảnh giấy bản màu đỏ điều nổi bật lên với hình đôi chim uyên ương trổ cánh tinh xảo ngậm nhành tơ duyên, bên dưới là những nét mực tàu chép dở bài thơ tương tư“Sông Lam một dải tơ vương,Mười năm cách trở, nghìn thương vẫn chờ.”
Từng nét chữ run rẩy, nghiêng lệch vì đôi mắt người viết đã mờ nhòa sau trăm năm dãi dầu, nhưng nét nào nét nấy đều chứa chan tấm chân tình tha thiết. So sánh nét thêu trên mảnh lụa cũ với nét mực tàu trên giấy bản đỏ, bà Trân bàng hoàng nhận ra, suốt mười năm qua, lòng người phu quân chưa từng nguôi ngoai nỗi day dứt. Ông chưa từng lãng quên lời ước hẹn, cũng chưa từng xem bà chỉ là cái bóng sau lưng như nỗi hờn tủi bấy lâu bà vẫn hằng ôm giữ.
Những giọt nước mắt kìm nén suốt một thập kỷ bỗng trào ra, lăn dài trên đôi gò má nhăn nheo của người vợ già. Bà buông mảnh lụa, bước chầm chậm lại bên chõng tre, ngồi xuống chiếc ghế đòn quen thuộc.
“Ông già cố chấp… sao mà vụng dại đến thế này cơ chứ…” Bà nghẹn ngào thì thào, đưa bàn tay run rẩy nắm lấy bàn tay thô ráp, gân guốc của cụ Chung.
Gió đêm ngoài bến sông Lam dịu dần, chỉ còn tiếng mưa rơi rả rích trên tàu lá dâu trước hiên. Hơi ấm của bếp than và cháo giải cảm dần phát huy tác dụng. Đến nửa đêm, cơn sốt hạ nhiệt, trán cụ Chung vã ra một lớp mồ hôi mỏng. Đôi hàng mi bạc trắng khẽ rung rinh rồi chậm rãi hé mở.
Trong ánh sáng ấm áp, hiền hòa của ngọn đèn dầu lạc, hình bóng đầu tiên hiện lên trước mắt cụ là mái tóc bạc như cước búi gọn bằng chiếc trâm gỗ xoan. Người bạn đời đang ngồi ngay bên cạnh, đôi mắt hoe đỏ ngấn lệ, hai bàn tay gầy gò đang siết chặt lấy bàn tay sứt sẹo của cụ như sợ buông ra thì cụ sẽ tan biến mất.
Cụ Chung mấp máy môi, định cất tiếng gọi nhưng cổ họng khô khát chỉ phát ra một thanh âm trầm đục. Bà Trân vội vã đưa tay vuốt nhẹ v*m ng*c gầy của ông, lắc đầu khẽ bảo “Đừng nói gì vội, ông vừa qua cơn cảm hàn đấy.”
Ánh mắt hai vợ chồng già lặng lẽ nhìn nhau giữa đêm khuya thanh vắng. Trong khoảng lặng êm đềm không lời ấy, bao nhiêu ấm ức, hờn giận tích tụ suốt mười năm dường như đã bắt đầu nứt vỡ, tan biến theo làn khói bếp bảng lảng.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
