Chương 11: Đôi Cánh Uyên ương Trên Giấy Bản
Ánh lửa từ đĩa dầu lạc lay động khẽ khàng, rọi lên manh chiếu cói trải giữa gian chái phụ một quầng sáng vàng dịu. Nâng mảnh giấy bản màu đỏ điều trên tay, Chung Phục Lễ ngồi xếp bằng ngay ngắn bên cạnh khung nón vừa dựng xong tối qua. Ngón tay cái còn bọc lớp vải buộc chặt nắm lá thuốc nam tuy vẫn hơi vướng víu, nhưng cảm giác nhức buốt đã tan biến tự lúc nào, chỉ còn lại sự ấm áp lan tỏa nơi đáy dạ.
Cụ miết nhẹ đầu ngón tay lên bề mặt giấy bản, cảm nhận lớp xơ mộc mịn màng như cánh hoa mùa xuân. Từ chiếc tráp mây nhỏ, cụ lấy ra cây kéo thép mũi nhọn chuyên dùng để trổ hoa văn gia truyền. Đôi mắt già nua hơi nheo lại dưới vầng trán hằn sâu những vết chân chim của một đời dâu bể. Bàn tay trăm tuổi run rẩy nâng mảnh giấy lên, nhưng khi mũi kéo vừa chạm vào thớ giấy đỏ, từng cử động liền trở nên chuẩn xác, uyển chuyển lạ thường.
Từng đường lượn thoăn thoắt tách đôi cánh chim, khéo léo tỉa từng chùm lông tơ li ti nơi đuôi uyên ương. Dáng dấp đôi chim quấn quýt, mỏ kề mỏ, cánh đan vào nhau dần dần hiện ra trên nền đỏ thắm. Mỗi nhát kéo hạ xuống là một nét nhớ, một mảnh tình cụ chắt chiu suốt mười năm dài dằng dặc gửi vào lòng nón.
“Nét trổ này, ngày trước bà nội con mê lắm đấy,” cụ Chung khẽ thì thào, khóe môi thoáng nét cười hoài niệm. “Hồi ấy ở Cổ Mộc trấn, nón bài thơ trổ cánh chim thì nhiều người làm được, nhưng chỉ có họ Chung mới biết cách tỉa đường viền cánh lượn theo vành nón thứ tám, để khi ánh nắng rọi qua, đôi uyên ương như đang chao lượn giữa tầng mây.”
Nói đoạn, cụ cẩn thận đặt cây kéo thép xuống mép chiếu, với lấy thỏi mực tàu cùng chiếc nghiên đá nhỏ mài sẵn từ chập tối. Đầu ngọn bút lông thỏ nhúng nhẹ vào mực đen nhánh, cụ nắn nót chép từng con chữ ngay ngắn lên dải giấy đỏ thon dài bên cạnh đôi chim“Sông Lam sóng biếc dẫu chia đôi,Chằm mối tơ lòng trọn kiếp trôi.Ước hẹn non thiêng chưa phai nhạt,Chờ người soi bóng nối duyên rồi.”
Mỗi nét chữ nghiêng nghiêng mang theo bao nỗi ân hận khôn nguôi về buổi lỡ hẹn năm nào trên đỉnh chùa non Yên Mã. Mực tàu đậm đà thấm sâu vào thớ giấy bản, ngát lên mùi hương trầm mộc mạc quyện cùng khói dầu le lói.
Chung Vĩnh ngồi ghé bên mép chõng tre, tay cầm chiếc quạt nan phe phẩy xua đàn muỗi vo ve quanh chân ông. Nhìn bóng lưng còng của cụ in đậm trên vách liếp nứa, ánh mắt chàng trai trẻ bỗng rưng rưng. Chàng nhìn bài thơ đỏ thắm, rồi lại ngập ngừng nhìn xuống chiếc rương lim góc phòng, giọng nói cất lên nghẹn ngào “Thưa ông nội... cháu có điều này giấu ông từ hôm rời Cổ Mộc trấn, nay mới dám thưa thật.”
Cụ Chung dừng ngọn bút, ngẩng đầu nhìn cháu với vẻ trìu mến “Có chuyện gì thế con? Cháu cứ nói, ông nghe đây.”
Chung Vĩnh cúi mặt, hai bàn tay đan chặt vào nhau:“Bó lá kè non ủ sương phơi khói nằm dưới đáy rương trước hôm sang sông... không phải người trong họ hay các chú thím để vào đâu ạ. Chính cháu đã lén hái từ vườn kè cổ thụ sau nhà, thức trắng mấy đêm liền ủ sương bên bờ sông rồi xông khói bếp cho thật đượm màu rồi mới xếp vào đáy rương. Cháu biết ông thương bà nhiều lắm, mười năm qua đêm nào ông cũng ngóng sang bờ Thạch Thất nhưng vì cái nết kiệm lời mà không chịu mở miệng. Cháu sợ nếu ông cứ lần lữa mãi, tuổi tác ngày một cao, ngộ nhỡ...”
Lời nói của Chung Vĩnh chùng lại, thanh âm run rẩy vì xúc động. Cụ Chung ngẩn người, đưa mắt nhìn về phía chiếc rương nơi góc tối, rồi lại nhìn đứa cháu trai trước mặt. Một dòng cảm xúc ấm áp dâng tràn nơi lồng ngực già nua. Hóa ra, đứa cháu mà cụ ngỡ còn non nớt lại thấu hiểu tâm can người già sâu sắc đến nhường này. Bó lá kè nõn tinh khôi ấy không chỉ là vật liệu làm nón, mà là tấm lòng thơm thảo của con cháu muốn bắc nhịp cầu cho hai mái đầu bạc sum vầy.
Cụ Chung đưa bàn tay gầy guộc vỗ nhẹ lên bờ vai vạm vỡ của đứa cháu, giọng khàn đục rung lên “Vĩnh à... cháu có lòng như thế, ông cảm kích lắm. Ông già này sống cả đời cứng nhắc, cứ ngỡ mình biết lo toan, nào ngờ lại vụng về thua cả đứa cháu đôi mươi. Nhờ có bó lá của cháu mà nón mới đứng dáng, mới có cơ hội tạ tội cùng bà nội.”
Hai ông cháu nhìn nhau, bao nỗi niềm bấy lâu nay như được cởi bỏ giữa gian chái nhỏ. Cụ Chung hít một hơi sâu, cẩn thận nhấc hình đôi chim uyên ương bằng giấy bản đỏ cùng dải thơ tương tư vừa ráo mực, đặt khớp nối ngay ngắn vào khoảng giữa vành nón thứ bảy và thứ tám trên khung mười sáu vành. Từng mẩu giấy đỏ nằm phẳng phiu giữa lớp lá kè thứ nhất, như một nhịp tim son rực rỡ nép mình dưới lớp áo trắng ngà.
Cụ với tay lấy chiếc kẹp tre nhỏ ghim giữ chặt mép giấy, rồi lần tìm hộp kim thép. Mũi kim dài sáng loáng kẹp sợi cước trong suốt mảnh như tơ nhện đã sẵn sàng trên tay. Cụ mím môi, định bụng luồn mũi kim đầu tiên xuyên qua thớ lá để khóa chặt linh hồn của nón bài thơ.
Bất thần, một luồng gió mạnh từ lòng sông Lam thốc mạnh qua kẽ liếp, thổi bùng ngọn lửa đèn dầu lạc khiến bóng tối chao đảo ngả nghiêng. Tiếng rặng tre bên bờ sông rít lên kèn kẹt từng hồi ghê gớm. Không khí bỗng chốc trở nên ngột ngạt, tanh nồng mùi bùn non và hơi nước buốt lạnh.
Cụ Chung giật mình dừng mũi kim, ngước nhìn ra ngoài cửa ngõ. Những đám mây đen kịt từ phía thượng nguồn cuồn cuộn đổ về như thác lũ, che khuất hoàn toàn vầng trăng đầu tháng, biến bầu trời đêm Thạch Thất thành một tấm màn đen đặc quánh. Gió bấc chuyển mùa rít từng cơn dữ dội, cuốn theo bụi cát và lá rụng bay rào rào trên mái cọ.
“Trời chuyển giông to rồi ông ơi!” Chung Vĩnh hốt hoảng kêu lên, vội đứng bật dậy chạy ra chốt lại then cửa liếp.
Đúng lúc ấy, một ánh chớp xanh loét xé toạc màn đêm đặc quánh, soi rõ khoảng sân xơ xác bên bờ sông. Tiếng sấm rền vang từng cơn dội xuống từ đỉnh núi mây mù, làm rung chuyển cả mái chái phụ ọp ẹp.
Qua khe nứa hở, ánh mắt cụ Chung thảng thốt nhìn sang gian nhà tranh bên kia bờ rào giâm bụt. Giữa cơn gió xoáy thốc giục giã, cánh liếp tre nhà bà Tú Trân đang bị gió quật đập chan chát vào vách đất liên hồi, phát ra những âm thanh khô khốc, cô quạnh giữa màn đêm giông bão.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
