Chương 10: Xếp Lá Lồng Vành

Chung Vĩnh vội vàng đón lấy nắm lá giã dập từ bàn tay nhỏ nhắn của đứa bé, cúi người xoa đầu nó rồi rút trong túi áo ra một chiếc kẹo bột bọc lá chuối khô đưa cho “Anh cảm ơn em nhiều lắm. Em về thưa lại với cụ bà là ông cháu anh xin nhận tấm lòng của cụ nhé.”

Đứa trẻ nhận lấy chiếc kẹo ngọt, nhoẻn miệng cười để lộ hai chiếc răng sún rồi thoăn thoắt chạy lẫn vào màn sương xóm đò Thạch Thất. Chung Vĩnh khép hờ cánh liếp che gió, quay lại bên chõng tre bưng nắm lá thuốc đến trước mặt cụ Chung “Ông nội xem này, bà nội vẫn còn thương ông nhiều lắm. Nghe tin ông đứt tay là giã thuốc gửi sang ngay.”

Chung Phục Lễ run run xòe bàn tay đón lấy nắm lá thuốc thảo mộc. Hương ngải cứu cay nồng quyện lẫn mùi lá trầu không và cỏ mực giã nhuyễn xông thẳng vào cánh mũi, quen thuộc đến mức khiến sống mũi cụ cay xè. Mười năm trước, mỗi bận cụ mải vót nan bị dằm đâm hay cưa phạm, cũng chính bàn tay tảo tần của bà Tú Trân hái nắm lá sau vườn nhai dập đắp cho. Mối giận hờn dẫu có sâu nặng tựa sông dài, thì cái nghĩa tao khang thấm đẫm trong từng ngọn cỏ nhánh cây này làm sao dứt bỏ cho đành.

Cụ Chung cẩn trọng nâng mớ lá xanh thẫm đắp kín miệng vết cứa nơi ngón tay cái. Vị thuốc the mát xua tan dần cơn nhức buốt. Cụ bảo cháu nội lấy dải vải sạch quấn chặt lại, giọng trầm khàn bùi ngùi “Bà con ngoài miệng quở trách lạnh lùng, nhưng ruột gan thì mềm như sợi bún. Cái ơn này của bà nó, lão già này khắc cốt ghi tâm.”

Cơn đau dịu đi, lòng cụ Chung lại trào dâng một luồng sinh khí ấm áp lạ thường. Cụ chống tay đứng dậy, nhìn vào chiếc khung gỗ hình chóp nón đặt giữa chiếu cói. Mười sáu vành tre cật uốn cong đã chuẩn bị tươm tất từ sớm, giờ là lúc dựng nên linh hồn cho chiếc nón bài thơ.

“Vĩnh con, bưng lại đây cho ông chồng lá kè đã miết phẳng.” Cụ Chung khẽ dặn, ánh mắt sáng rỡ hướng về đứa cháu đích tôn. “Lồng vành xong xuôi rồi, giờ ta bắt đầu vào khuôn xếp lá.”

Chung Vĩnh cẩn thận bê lại xấp lá kè nõn trắng phau, bóng mịn như phiến lụa non được bảo bọc cẩn mật dưới đáy rương. Cụ Chung ngồi xếp bằng trên manh chiếu, đặt khung gỗ hình chóp nón vững chãi giữa hai đầu gối. Bàn tay trăm tuổi dẫu còn vướng dải băng nơi ngón cái nhưng khi chạm vào khuôn nón lại trở nên khéo léo, chuẩn xác lạ kỳ.

Cụ đặt từng vành tre cật vào rãnh khuôn, từ vành đáy lớn nhất rộng hơn sải tay cho đến vành thứ mười sáu bé xíu trên chóp nón. Mười sáu nan tre tròn trịa ôm khít lấy thân khuôn, đều đặn tăm tắp như những gợn sóng lăn tăn ngoài bến nước.

“Cháu nhìn cho kỹ nhé,” cụ Chung cầm phiến lá kè đầu tiên lên, nhẹ nhàng vuốt phẳng từng thớ gân li ti, “nghề chằm nón bài thơ cốt ở sự kiên nhẫn. Xếp lá lên vành không được hấp tấp. Mỗi chiếc lá phải đặt chếch một góc nghiêng vừa phải, sống lá nương theo sườn khung tre, mép lá này đè lên mép lá kia đúng nửa đốt ngón tay.”

Chung Vĩnh ngồi sát bên cạnh, chăm chú dõi theo từng cử động của ông nội rồi cũng cẩn thận cầm lấy một phiến lá kè ướm thử lên khung. Cậu đặt phiến lá thứ hai gối lên mép phiến lá đầu, nhưng vì tay còn vụng nên mép lá bị xô lệch, chực tuột khỏi vành nón.

Thấy cháu lúng túng, cụ Chung khẽ cười đôn hậu. Cụ đưa bàn tay gầy gộc giữ nhẹ lấy mu bàn tay Chung Vĩnh, uốn nắn từng ngón tay trẻ trung “Đừng nôn nóng con à. Ngón trỏ phải tì nhẹ vào sống lá, ngón cái giữ chặt mép dưới nơi vành đáy. Khi rải lá, phải so le các tàu lá với nhau thật khít khao. Nếu để hở, khi chằm kim sẽ lộ đường cước; còn nếu đè quá dày, nón sẽ nặng và mất đi độ thanh thoát. Chiếc nón đẹp là khi soi lên nắng, từng thớ lá quyện vào nhau mỏng manh như một làn sương mai.”Được ông chỉ dẫn tận tình, Chung Vĩnh thở phào, cẩn trọng miết phẳng mép lá kè tiếp theo. Dưới bàn tay hai ông cháu, lớp lá kè thứ nhất dần dần bao bọc kín mít mười sáu vành tre, tạo nên một hình chóp nón trắng muốt, tinh khôi.

Gió đêm từ lòng sông Lam thổi qua khe liếp lùa vào gian chái mang theo hơi ẩm mát rượi. Bên ngoài hiên, vầng trăng lưỡi liềm đầu tháng vừa nhô lên khỏi rặng tre, dát một dải bạc lấp lánh xuống mặt nước êm đềm. Tiếng sóng vỗ bờ đất Thạch Thất rì rào hòa cùng tiếng côn trùng rả rích trong vườn thuốc nam.

Nhìn lớp lá mỏng đầu tiên đã ôm trọn khung nón phẳng phiu, cụ Chung nhấp một ngụm nước chè xanh sóng sánh do Chung Vĩnh vừa rót ra bát sứ. Cụ nhìn làn khói chè nghi ngút, chậm rãi trải lòng “Con có biết vì sao chiếc nón bài thơ của xứ ta lại phải lợp đủ hai lớp lá mỏng không?”

Chung Vĩnh nghiêng đầu suy nghĩ một lát rồi đáp “Dạ thưa ông, có phải để nón thêm dày dặn, che mưa che nắng tốt hơn không ạ?”

Cụ Chung đưa mắt nhìn ra phía rào giâm bụt ngăn cách với gian nhà tranh của cụ bà Tú Trân, ánh mắt lắng đọng bao niềm hoài niệm “Đó chỉ là cái cớ che mắt người đời thôi con. Hai lớp lá mỏng manh ấy, lớp ngoài cùng dãi dầu sương gió, gánh hết nắng gắt mưa sa để che chở cho người đội; còn lớp bên trong lại áp sát mái tóc, giữ cho lòng nón luôn sạch sẽ, thơm tho. Nhưng điều cốt tủy nhất nằm ở khoảng trống giữa hai lớp lá ấy. Người thợ nón gửi gắm hình bóng non nước, đôi chim uyên ương hay những câu thơ thề nguyện vào chính giữa hai tầng lá kè. Khi đi dưới trời râm mát, chiếc nón trông bình dị như bao chiếc nón lá thôn quê khác; nhưng chỉ khi giơ nón soi dưới ánh mặt trời rực rỡ hay bóng trăng thanh, tâm tình giấu kín bên trong mới hiện lên rõ ràng, tỏ tường.”

Nói đến đây, thanh âm cụ Chung bỗng chùng xuống, nghẹn ngào “Cũng như tấm lòng của người già tụi ông vậy. Lớp ngoài dẫu có cằn cỗi, vụng về, cứng nhắc như thân tre già, nhưng tận sâu thẳm bên trong, tình nghĩa phu thê vẫn vẹn nguyên như thuở ban đầu, chưa từng một ngày phôi phai.”

Chung Vĩnh ngồi lặng thinh nghe từng lời tâm can của ông nội, trong lòng dâng lên niềm xúc động khôn xiết. Chàng trai hiểu rằng chiếc nón này không chỉ đơn thuần là một vật phẩm che nắng che mưa, mà là tất cả tấm lòng sám hối, là chiếc cầu nối bắc lại duyên xưa sau mười năm đằng đẵng cách trở đôi bờ.

Hai ông cháu lại miệt mài bên khung nón. Cụ Chung dùng những chiếc kẹp tre nhỏ kẹp chặt các mép lá kè của lớp thứ nhất vào vành đáy, vuốt phẳng từng nếp gấp li ti trên đỉnh chóp nón. Mọi công đoạn chuẩn bị cho phần cốt nón đã hoàn tất mỹ mãn, ngay ngắn và tinh tươm. Giờ đây, khoảng trống giữa hai tầng lá đang chờ đợi linh hồn thật sự của chiếc nón bài thơ được đặt vào.

Cụ Chung đứng dậy, bước chầm chậm về phía góc chõng tre, mở nắp chiếc rương gỗ lim cũ kỹ. Đôi bàn tay run rẩy nhấc chiếc tráp mây nhỏ, lấy ra một mảnh giấy bản màu đỏ điều được cất giữ phẳng phiu giữa hai trang sách cổ.

Màu đỏ của giấy bản rực lên dưới ánh đèn dầu lạc leo lét, ấm áp và tươi thắm như màu hoa đào chớm nở giữa mùa xuân. Cụ Chung nâng niu phiến giấy trên tay, khẽ v**t v* bề mặt mịn màng rồi quay sang nhìn đứa cháu nội, giọng nói chan chứa niềm hy vọng “Khung nón đã đứng dáng, lá kè đã êm vành. Đêm mai, ông cháu mình sẽ cắt hình đôi chim uyên ương lồng vào lòng nón.”

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.