Chương 9: Bản đồ Than Củi
Tiếng gầm thét oang oang của chú Tấn cùng tiếng đập bàn rầm rập bên kia rạch dội thẳng qua mặt nước lũ, làm mấy con chim trích cồ giật mình vỗ cánh bay vụt lên khỏi đám cỏ năn. Minh Đăng nép sát sau cột hàng ba, ngực đập thình thịch khi nghe ngóng động tĩnh. Ngoài bến đò ngang, tiếng máy đuôi tôm của mấy chiếc vỏ lãi buôn cá từ thị trấn vẫn nổ giòn giã từng chặp, mùi dầu khét lẹt nồng nặc bay theo chiều gió lùa vào tận sân nhà.
Cụ Hằng đứng sừng sững bên mép thềm, hai bàn tay đồi mồi siết chặt đầu gậy tràm già bóng lẫy. Bà ngó trân trân về phía bến đò hồi lâu, rồi quay lại dặn cháu bằng giọng trầm đục “Thằng Đăng, mày ở nhà canh chừng chái bếp, cuốn sổ cất kỹ vô đáy rương cho bà. Tao phải qua bên nhà thầy Bảy cắt mấy thang thuốc nam giặm thêm cho cái lưng, sẵn dò coi đằng ủy ban xã người ta tính việc tới đâu. Đừng có đi lung tung nghe mày.”
Bóng lưng còng của bà nội vừa khuất sau rặng dừa nước đầu xóm, Đăng liền bước nhanh vào buồng. Nó cẩn thận cất cuốn sổ bọc vải dầu của ông nội vào đáy rương gỗ mít, nhưng những nét vẽ mực tàu về năm cụm sen trắng và cái bồn rễ ngầm sâu ba tấc cứ xoay vần trong đầu non nớt của nó. Tiếng chú Tấn đòi lùi ranh một tầm sào, rồi chuyện mấy tay lái cá lóc thị trấn lăm le thâu tóm ruộng trũng cứ chực bóp nghẹt mảnh đất của hai bà cháu. Nghĩ tới cảnh buổi chiều người ta kéo tới đo đạc rồi xới tung ruộng sen lên, Đăng cắn chặt môi dưới.
Nó chạy ra chái bếp, lượm một mẩu than củi đượm màu đen nhánh từ lòng lò cà ràng nguội ngắt, nhét vội vào túi áo bà ba. Trên giàn bếp có một miếng bìa cáctông cắt ra từ thùng mì gói con tôm đã ố vàng vì khói bếp, Đăng liền kẹp chặt vào nách, bước thoăn thoắt xuống sàn nước.
Chiếc xuồng ba lá cũ cột bên gốc bình bát đang dập dềnh theo từng con sóng vỗ. Đăng tháo gút dây dừa, chống mạnh cây sào tre dài hơn hai sải tay xuống lòng bùn. Chiếc xuồng nhẹ tênh rẽ màn bèo tây, lướt êm ru ra giữa vạt ruộng ba mẫu hai công ngập trắng xóa.
Nước lũ thượng nguồn đổ về làm mặt ruộng dâng cao hơn hôm qua chừng một gang tay. Gió chướng thổi ràn rạt qua tai, cuốn theo hơi bùn non ngai ngái xen lẫn mùi sen tàn ngậm nước. Đăng cắm sào ghìm xuồng lại ngay mép bờ bao bị xé toạc phía Đông. Cụm sen trắng đầu tiên nằm dập dềnh sát mí đất lở, phiến lá lượn sóng mềm mại như dải lụa xanh biếc trải trên mặt nước đục ngầu, cuống lá trơn nhẵn không hề có gai nhọn.
Nó buông dầm, rút cây sào tre cắm thẳng đứng xuống bên cạnh gốc sen. Bùn non lún sụt chừng hai tấc thì mũi sào chạm phải một tầng cản cứng cáp, chắc nịch. Đăng ghì hai tay lên thân sào, ấn nhẹ. Đầu sào khựng lại, truyền lên lòng bàn tay một cảm giác gồ ghề của thân gỗ già đã ngâm nước lâu năm.
“Cọc tràm ngầm...” Đăng lẩm bẩm trong miệng, mắt ánh lên vẻ kiên định. Đúng như lời bà nội giảng giải, cọc tràm đóng chéo ém chặt bồn rễ, không cho dòng nước xé trôi.Nó lấy mẩu than củi trong túi ra, đặt tấm bìa cáctông ướt mép lên khoang xuồng, bắt đầu vạch một chấm tròn đen đậm ngay góc phải dưới cùng. Nó vẽ thêm bốn gạch chéo nhỏ bao quanh chấm tròn, tượng trưng cho bốn cọc gỗ ngầm giữ gốc sen.
Rút sào lên, Đăng dùng chân chống xuồng nhích tới trước đúng hai sải tay. Chiếc xuồng trôi êm ả qua vạt nước sâu ngang tầm gốc cây điên điển cổ thụ đang trổ bông vàng rực bên bờ mương. Đúng như trí nhớ của nó, cụm sen trắng thứ hai hiện ra sừng sững giữa đám rong đuôi chồn. Lá sen ở đây vươn cao khỏi mặt nước chừng nửa thước, mép lá cong lượn từng đợt sóng tròn trịa, nguyên vẹn không một vết răng cưa.
Đăng lại nhấn sào tre xuống bùn đo cẩn thận. Mũi sào chìm sâu đúng ba tấc thì chạm vào đầu cọc tràm thứ hai. Nó ngồi bẹp xuống lòng xuồng ướt sũng, ngón tay đen nhẻm vì bụi than nắn nót vạch chấm tròn thứ hai, kéo một nét thẳng nối liền với điểm ban đầu, rồi vẽ một nhánh cây điên điển ngoằn ngoèo bên mép bờ để làm mốc đối chiếu.
Gió đồng càng lúc càng thổi mạnh, thổi bay mấy sợi tóc húi cua lởm chởm trên trán đứa trẻ chín tuổi. Đăng không hề thấy mỏi, hai đầu gối nó tì chặt lên tấm ván be xuồng, đôi mắt mở to dõi theo từng khoảng cách mặt nước. Từ cụm thứ hai tới cụm thứ ba và thứ tư, nó đếm đúng bốn bước sào tre. Cứ mỗi lần chạm đầu sào vào lớp gỗ tràm ngầm dưới đáy bùn, nó lại quệt mẩu than lên tấm bìa cứng.
Ở cụm thứ năm, nơi sát mí rặng gáo nước có dòng nước chảy xiết và sâu nhất, Đăng phải nhoài cả nửa thân người ra khỏi be xuồng để cắm sào. Dưới đáy bùn sâu hoắm, cọc tràm vẫn cắm đứng sừng sững, bốn bề rễ sen bện chặt vào nhau như chiếc lưới ngầm vô hình giữ đất.
Dưới ánh mặt trời đứng bóng chiếu xiên qua làn sương mỏng, tấm bìa cáctông hộp mì gói cũ kỹ hiện lên một sơ đồ rành rọt. Từng nét than đen tuyền nguệch ngoạc nhưng chuẩn xác đến từng gang tấc: năm cụm sen trắng nối liền nhau thành một đường ranh giới thẳng tắp ngăn nắp, chạy dài từ mí bờ bao sạt lở đến tận rặng gáo nước, đối diện với những gò đất cao và gốc tràm mé rạch. Nhìn đường vẽ ngay ngắn như giăng dây mực thợ mộc trên tay, lòng Đăng dâng lên một niềm an tâm ấm áp lạ thường. Nó biết, mảnh đất này của ông nội, của bà nội, và không ai có thể tùy tiện dời cọc lấn ranh được nữa.
Quá mải mê ngắm nghía những vệt than củi, Đăng không để ý mũi xuồng đã theo dòng nước chảy xiết trôi dạt dần về phía bờ mương giáp ranh phía Tây. Cơn gió chướng bất thần thốc mạnh làm chiếc xuồng ba lá chòng chành, mũi gỗ va nhẹ đánh “cộc” một tiếng vào bờ đất lầy lội đầy rễ trâm bầu.
Đăng giật mình ngước lên, lồng ngực thót lại một nhịp.
Ngay trên mô đất cao ráo dưới bóng cây trâm bầu còi, ông Phước đang ngồi bó gối trên chiếc cầu khỉ mục. Dáng người gầy guộc của ông lão sáu mươi hai tuổi bất động như pho tượng, trên môi ngậm một điếu thuốc rê sâu róm khói tỏa nghi ngút. Đôi mắt già nua của ông Phước không chớp, lặng câm nhìn trân trân vào đứa trẻ chín tuổi và tấm bìa vẽ than củi lem luốc đang cầm trên tay.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
