Chương 10: Nợ Nghĩa Bên Bờ Kênh

Cụ Hằng dợm bước gậy tràm trên bờ đất trơn trượt mé mương giáp ranh phía Tây, vừa vặn trông thấy chiếc xuồng ba lá của thằng Đăng tấp vào rễ trâm bầu. Đứa cháu nội đang lúng túng giấu tấm bìa cáctông ra sau lưng, đưa mắt ngó sững người đàn ông ngồi bó gối bên cầu khỉ mục.

“Đăng, bơi xuồng vô bến sau nhà đi con, để đó bà biểu.”

Tiếng cụ Hằng cất lên rành rọt giữa tiếng gió chướng thổi ràn rạt. Thằng bé ngoan ngoãn dạ một tiếng thật khẽ, chống sào quay mũi xuồng luồn qua đám bèo tây, bơi riết về mé chái bếp. Mặt nước xao động chầm chậm lắng lại, chỉ còn vạt nắng chiều muộn đỏ quạch như màu đất sét non phủ lên rặng trâm bầu còi cọc.

Cụ Hằng dừng bước, đầu gậy tràm già cắm chắc vào lớp bùn ướt. Bà đưa bàn tay nổi gân xanh chỉnh lại mối khăn rằn trên cổ, ánh mắt trầm lặng dừng lại trên gương mặt gầy guộc của ông Phước. Khói thuốc rê sâu róm bay là đà qua chòm râu lởm chởm, phảng phất mùi khét nồng của lá thuốc xắt sợi phơi khô.

“Ngồi hóng gió hay ngó con nước vậy, ông Phước?” Cụ Hằng mở lời, giọng điềm đạm như thể chẳng hề có chuyện căng thẳng ở hiên nhà trưởng ấp hôm qua.

Ông Phước giật thót, vội vàng gỡ điếu thuốc khỏi miệng. Đôi vai hơi còng của ông lão rụt lại, ngón tay vàng khè vì khói thuốc run run gõ nhẹ thân điếu vào gối quần “Dạ… chị Hằng mới bên nhà thầy Bảy về hả chị? Tui ngồi ngó mấy vạt nước son đổ dồn… coi chừng đêm nay nước nhảy thêm tấc nữa.”

“Nước về thì đất chịu, người ruộng mình lạ gì con nước tháng Tám.” Cụ Hằng bước thêm hai bước, đứng ngang tầm với mố cầu khỉ. “Hồi trưa này, thằng Đăng nó cầm sào đi đo lại mấy bụi sen ngoài bãi. Nó nhỏ tuổi mà cái bụng dạ nó nhớ dai, giống y như ông Lộc hồi còn sống.”

Nhắc tới cái tên Hứa Văn Lộc, tàn thuốc trên tay ông Phước khẽ rung lên. Ông cúi gằm mặt nhìn xoáy nước đục ngầu đang cuộn tròn quanh gốc trâm bầu, hai hàm răng nghiến chặt vào nhau. Một hồi lâu, ông mới thở dài sườn sượt “Chị Hằng… bữa qua trên nhà chú Tư Bình, tui… tui ngậm tăm không dám hé môi nửa lời, chị có giận tui không?”

Cụ Hằng lắc đầu, khóe môi khẽ nhếch lên một nụ cười khô khốc “Giận làm chi chuyện đã rồi. Mày với thằng Tấn, con Bảy, thằng Cương ở chung xóm này mấy chục năm, chạm mặt nhau mỗi ngày từ bờ kinh tới ngọn rạch. Mày ngại cái tính bốc đồng, ăn to nói lớn của thằng Tấn, tao hiểu chứ đâu có trách.”

Sự bao dung bình thản ấy như một lưỡi dao cùn cứa vào lòng người đối diện. Ông Phước lúng túng mân mê điếu thuốc đã tàn một nửa, giọng nghẹn lại “Chị càng không trách, tui lại càng thấy cái ruột mình quặn lại, chị ơi. Năm một chín bảy sáu, cái năm nước lũ ngập lút nóc chòi, nhà tui trắng tay, sáu miệng ăn chỉ trông vào nắm gạo mốc. Nếu bận đó anh Lộc không chèo xuồng chở qua cho tui giạ nếp đầu mùa, rồi dắt tui đi mót củ sen cầm cự qua mùa đói, thì cái mạng tui với bầy con chắc gì còn tới bữa nay để ngồi đây vê thuốc hút…”Ký ức hai mươi năm trước như dòng phù sa cuồn cuộn ùa về bên mé mương ngập nước. Cụ Hằng ngước nhìn vạt sen tím phía mép ruộng nhà ông Phước đang dập dềnh theo từng con sóng vỗ. Những cuống sen sẫm màu, phiến lá dày khum nhọn vươn cao trong bóng hoàng hôn, bền bỉ bám chặt lấy vùng đất phèn chua chát.

“Mày còn nhớ mùa nước năm đó không, Phước?” Cụ Hằng cất giọng chậm rãi, trầm đục như tiếng chày nện cối ép dầu. “Nước ngập lút bờ, ông Lộc rủ mày bơi xuồng tuốt vô lung tràm chặt mấy chục cây tràm già đem về. Đêm nào hai người cũng ngồi bên chái bếp vót cọc nhọn hoắt. Rồi chính tay mày với ổng lội nước tới ngang ngực, cầm vồ gỗ đóng từng cọc tràm hình chữ thập sâu ba tấc dưới bùn ngay mô đất trâm bầu này để ém bồn rễ sen tím, chia ranh đất hai nhà.”

Từng lời cụ Hằng nói rơi xuống rành rọt, chuẩn xác đến từng gang tấc đất đai. Ông Phước run rẩy đưa bàn tay thô nhám quẹt ngang trán, mắt ngân ngấn nước “Nhớ chứ chị… Tui nhớ từng nhát búa anh Lộc gõ xuống, nhớ cả cái mốc chữ thập chôn dưới bùn non. Anh dặn tui: ‘Đất này cha ông đổ mồ hôi khai phá, cây tràm ngâm nước trăm năm không mục, rễ sen bám cọc tràm mà giữ đất, ngàn đời sau con cháu không lo tranh giành bờ cõi’. Tui nhớ hết, từng lời từng chữ như khắc vô xương tủy…”

“Mày nhớ, mà hôm qua mày nín khe.” Lời cụ Hằng vẫn đều đều, không nặng nề gắt gỏng nhưng nặng trĩu sức ép của sự thật.

Ông Phước vò nát điếu thuốc rê trong lòng bàn tay, tro thuốc đen nhẻm rớt vương vãi xuống mép cầu khỉ “Tui hèn quá, chị Hằng ơi! Thằng Tấn nó hăng máu, nó cậy có bà con ngoài chợ ngã ba, lại nghe lời mấy tay lái cá lóc thị trấn xúi giục muốn xới tung vạt trũng đắp đầm. Tui sợ… tui sợ mình mở miệng làm chứng cho chị thì nó thù hằn, nó quấy phá mối làm ăn của mấy đứa nhỏ nhà tui. Tui già rồi, sức tàn lực kiệt, chỉ muốn yên thân cho qua mấy mùa nước nổi còn lại…”

Gió chiều thổi thốc qua bờ mương, làm rung rinh những đọt trâm bầu khẳng khiu. Cụ Hằng lặng lẽ nhìn người đàn ông đang cúi đầu co ro trước mặt. Đời người nông dân nơi đồng bãi này, cái nghèo cái khó nhiều khi trói buộc người ta vào sự sợ hãi, biến những người từng chia nhau củ khoai hột sen thành kẻ câm lặng trước lẽ phải. Nhưng mảnh đất này không thể phân định bằng sự sợ hãi. Nó được giữ lại bằng mồ hôi, bằng sự chính trực của những người cắm cọc giữ bồn rễ suốt bao mùa giông bão.

“Mày sợ thằng Tấn một, mà không sợ vong linh người xưa mười sao Phước?” Cụ Hằng khẽ thở dài, âm thanh lọt thỏm giữa tiếng ếch nhái bắt đầu râm ran gọi đàn khi trời sập tối. “Ruộng đất trôi đi thì người ta tiếc, chứ cái nghĩa cái tình trôi đi thì lấy cái gì đắp lại cho đầy? Ông Lộc nằm dưới giồng đất cao bảy năm nay rồi, ổng không cần thêm một tấc đất nào dưới bùn nữa đâu. Nhưng thằng Đăng… nó mới chín tuổi đầu. Tao già rồi, sống nay chết mai, tao chỉ muốn giữ lại cho nó cái gốc rễ ngay thẳng của ông nội nó để lại.”

Ông Phước ngước lên, đôi môi mấp máy run rẩy nhưng không thốt nên lời. Lưng ông còng rạp xuống, hai bàn tay đan chặt vào nhau đặt trên đầu gối, bất động như một khúc gỗ mục trôi dạt vào bờ.

Cụ Hằng không nài ép thêm một câu nào. Bà chống gậy tràm, xoay người bước từng bước vững chãi trên bờ đất trơn trượt để trở về con đường mòn dẫn ra chái bếp. Đi được chừng năm bước, bà dừng lại, không ngoái đầu, chỉ để lại một câu dặn dò bình thản hòa vào làn gió chướng “Chuyện cọc tràm chữ thập dưới gốc trâm bầu, mày biết, trời biết, đất biết. Ngày mai cán bộ xã với xóm giềng ra đo lại bờ đê, mày nói hay mày nín là tùy cái bụng của mày.”

Bóng lưng còng của bà cụ tám mươi tám tuổi khuất dần sau rặng điên điển vàng rực trong bóng chạng vạng. Phía sau lưng bà, trên chiếc cầu khỉ mục bên bờ mương ngập nước, ông Phước vẫn ngồi chôn chân bất động. Tàn thuốc rê vụn nát từ kẽ ngón tay ông rơi lả tả, chìm lỉm vào dòng nước đỏ quạch đang cuộn sóng mênh mang.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.