Chương 7: Chuyện Kể Bên đốm Lửa Rơm
Gió giông vẫn quất ràn rạt vào liếp tre sau hè, từng chặp rít qua rặng tràm nghe buốt rát. Minh Đăng ngồi xếp bằng bên đống trấu và rơm khô vun gọn góc sàn nước, tay cầm mo cau phe phẩy chầm chậm. Khói rơm bảng lảng cuộn lên, mùi ngai ngái nồng ấm quyện vào hơi nước lũ lạnh ngắt phả từ mé kênh Dương Văn Dương, xua đám muỗi cỏ đói nước đang vo ve quanh đôi chân gầy guộc của bà nội.
Bà cụ Hằng ngồi trên mép phản gỗ, dải khăn rằn vắt hờ trên vai áo bà ba đen. Dưới ánh sáng le lói hắt ra từ cây đèn dầu đặt nơi góc bàn con, bọc vải dầu sáp ong được cụ Hằng lấy lại từ mặt bàn mở hé. Cuốn sổ tay bìa giấy xi măng nằm ngay ngắn giữa lòng hai bàn tay đồi mồi của bà.
Đăng quạt thêm vài nhát cho khói rơm dạt sang mé vách nứa, xích lại gần chân phản. Đôi ngón tay khẳng khiu của nó lấm lem chút tro xám, ngập ngừng vịn lấy mép chiếu lát “Bà nè… mấy cái chấm mực đen tròn vo này, với mấy cái nhánh hoa vẽ vòng vèo quanh bốn góc… ông nội vẽ chi vậy bà?”
Bà Hằng không ngước lên ngay. Ngón tay trỏ ráp sần của bà miết chầm chậm trên đường kẻ mực tàu đã phai sắc nâu theo năm tháng. Một làn khói rơm mỏng manh luồn qua khe liếp, làm đôi hàng mi hoa râm của bà khẽ động đậy.
“Đó là bồn sen trắng bờ Đông với mấy bụi sen hồng Tháp Mười của ông nội mày đó,” bà cất giọng trầm đục, từng lời thong thả như nhịp dầm gõ mạn thuyền lúc đêm vắng. “Mày thấy mấy cái chấm tròn này không? Nó không phải chấm chơi đâu. Hồi năm bảy mươi sáu, sau giải phóng chừng một năm, đất đai xóm mình bắt đầu gom về mần ăn chung. Ông nội mày dắt tao về đây, nhìn bãi sình lầy ngập phèn đỏ quạch mà bảo: ‘Đất này trũng thiệt, nhưng giống sen vàng với sen trắng xứ mình cắm rễ xuống là sống đời đời’. Ông thức trắng mấy mùa nước để chọn giống, đắp gờ đất, rồi chắt chiu từng giọt dầu sen nuôi ba cha con thằng tía mày lớn khôn.”
Đăng ngước nhìn khuôn mặt bà. Ánh than đỏ âm ỉ từ đụn trấu rơm hắt lên gò má nhăn nheo, soi rõ nét trầm ngâm nơi khóe mắt già nua. Đứa trẻ chín tuổi nép sát đầu gối vào thành phản, nghe rõ tiếng ếch nhái râm ran ngoài đồng bãi hòa cùng tiếng thở dài nhè nhẹ của bà.
“Bà ơi… hồi đó ông nội cực lắm hả bà?”
“Cực chớ sao không cực, thằng ranh,” bà Hằng khẽ lắc đầu, khóe miệng móm mém thoáng gợn một nụ cười hiếm hoi. “Nước lũ trên nguồn đổ về xứ Đồng Tháp Mười này đâu có hiền từ như nước sông quê người ta. Năm nào con nước son tràn bờ, phù sa ngập lút đầu ngọn sào, bờ đất đắp bằng tay có chắc mấy cũng bị xé toạc ra hết. Người làng rủ nhau bỏ ruộng trũng lên giồng cao làm rẫy, chỉ có ông nội mày là bám trụ. Ổng lội bì bõm dưới sình non cả ngày lẫn đêm, hai bàn chân nứt nẻ ăn sâu vào tận xương vì ngâm nước phèn. Ổng bảo sen xứ mình có cái rễ ngó bền bỉ lạ lùng, nước dâng tới đâu ngó sen vươn đài tới đó, chỉ cần có cái thế để giữ bồn thì nước lũ có hung bạo mấy cũng không cuốn trôi được.”
Bà lật giở trang giấy ố vàng sang bên phải. Mặt giấy xào xạc cọ vào da thịt khô khốc. Ngón tay bà dừng lại ở nét vẽ bốn mũi tên chéo nhau cắm sâu xuống tầng đáy “Mày coi nè, cọc tràm già vót nhọn bốn đầu, đóng sâu ba tấc dưới bùn non thành hình cái cũi ngầm. Đất trên mặt bị sóng đánh trôi, bờ bao đất thịt pha phèn cao bảy tấc có sạt lở, nhưng cái cũi tràm dưới đáy bùn vẫn giữ chặt bồn rễ ngó sen trắng không cho trôi dạt sang ruộng người khác. Ông nội mày vẽ cuốn sổ này, chấm từng vết mực, đo từng sải tay, không phải để so đo hơn thua với xóm giềng một nắm bùn hay tấc đất. Ổng ghi lại ranh giới rành mạch để sau này, dẫu nước lũ có xóa nhòa mặt đất, con cháu đời sau vẫn biết đâu là mồ hôi nước mắt của ông cha mà giữ lấy, không lấn của ai và cũng không để ai cướp mất.”Minh Đăng lắng tai nghe từng lời. Trong trí nhớ non nớt của nó, hình ảnh người cha quá cố chỉ còn là một vệt áo bà ba xanh bạc màu trước ngực, còn ông nội Hứa Văn Lộc mất từ lúc nó chưa tròn hai tuổi chỉ hiện hữu qua bát nhang sành và tấm hình mờ trên bàn thờ vách giữa. Những ngày qua, mỗi lần nghe chú Tấn nạt nộ ngoài bờ kênh hay thấy chú Cương trừng mắt hùa theo ngoài hiên nhà trưởng ấp, lòng nó lúc nào cũng nơm nớp sợ sệt. Nó luôn cảm thấy hai bà cháu như dề lục bình côi cút trôi dạt giữa cánh đồng ngập nước, bơ vơ giữa xóm giềng đông đúc.
Nhưng giờ đây, nhìn từng nét vẽ mực tàu thẳng thớm trên trang giấy xi măng sờn góc, Đăng thấy lồng ngực mình ấm sực lên như vừa húp muỗng cháo tấm nóng hổi bên lò cà ràng. Thì ra dưới lớp bùn sâu ba tấc kia, người đàn ông mang họ Hứa của nó đã cắm cọc, giữ đất, truyền lại cho nó một gốc rễ vững chãi tự thuở nào. Đứa trẻ không còn thấy mình là đứa nhỏ ăn bám vụng về nữa. Bàn tay nó vô thức sờ vào lớp vải áo bà ba xanh đã cắt ngắn gấu, nghe rõ nhịp thở của chính mình hòa cùng tiếng gió ngàn ràn rạt ngoài hiên.
“Bà ơi…” Đăng chỉ ngón tay mảnh khảnh vào giữa trang giấy, mắt nhìn chăm chú vào các ký hiệu thẳng hàng. “Hồi trưa con lội mé nước bẻ gương sen với bà, con thấy sen trắng mọc thẳng một hàng y chang nét mực này nè. Nó mọc thẳng đuột từ chỗ bờ bao vỡ vô tới rặng gáo nước luôn.”
Bà Hằng nhìn theo ngón tay cháu, ánh mắt đượm vẻ chăm chú “Mày nhớ chắc không?”
“Con nhớ chắc mà bà. Khóm nào mép lá cũng lượn sóng mềm èo, không có gai nhọn như sen hồng. Cứ cách chừng hai sải tay là có một cụm đứng im ru, sóng đánh dập dềnh cỡ nào cọng sen cũng không dạt đi đâu hết.”
Bà Hằng im lặng gật đầu, bàn tay khô ráp vỗ nhẹ lên mu bàn tay nhỏ thó của cháu nội. Sự rụt rè thường ngày trên gương mặt thằng bé dường như đã lùi lại phía sau, nhường chỗ cho vẻ lanh lợi, sáng dạ của một đứa trẻ sinh ra và lớn lên giữa đồng bãi.
Đăng tì cằm lên gối, tay lật khẽ góc trang sổ sang mặt sau. Ở trang sơ đồ vẽ ranh giới mé ruộng phía Tây, nét mực tàu của ông Lộc vẽ một dải sen tím đài hoa khum nhọn, nở rộ giữa lòng ruộng trũng. Bất chợt, ánh mắt Đăng dừng lại ở một ký hiệu cọc tràm hình chữ thập gạch chéo nằm sát mí mương dẫn nước.
Đăng tròn xoe mắt, ngón tay run nhẹ gõ cộc cộc lên mặt giấy “Bà coi nè bà… chỗ cọc tràm hình chữ thập này, sao nhìn giống hệt cái mô đất có bụi trâm bầu còi góc ruộng nhà ông Phước quá vậy bà?”
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
