Chương 6: Kỷ Vật Của Người Xưa

Thằng Đăng ôm cuốn sổ tay bước vội từ chiếc bàn con lại gần mép phản. Ngọn gió luồn qua khe liếp làm ngọn bấc dầu phập phù, hắt bóng hai bà cháu chập chờn lên vách nứa.

“Bà ơi…” Thằng bé cất giọng khe khẽ, hai bàn tay gầy nhỏ nâng cuốn sổ tay bìa giấy xi măng chìa ra trước mặt bà. “Con tìm thấy cuốn sổ của ông nội dưới đáy rương cây. Trong này… ông nội vẽ vệt sen trắng mé bờ Đông y hệt ngoài ruộng mình đó bà.”

Cụ Hằng chầm chậm quay đầu lại. Dưới dải áo tơi lá cọ vừa choàng vội, đôi vai còng của bà khẽ rung lên. Ánh mắt một mí trầm đục lướt qua manh vải dầu sẫm màu khói bếp nằm vắt trên tay cháu, rồi dừng lại ở những con chữ quốc ngữ nắn nót viền khung mực đỏ au. Bàn tay nổi đầy gân xanh của cụ run rẩy giơ ra, những ngón tay khô ráp như rễ tràm cẩn thận đón lấy cuốn sổ cũ.

Đã tròn bảy năm kể từ ngày ông Lộc trút hơi thở cuối cùng trên chiếc chõng tre này, cụ mới lại nhìn thấy nét mực tàu quen thuộc ấy. Đầu ngón tay cái đồi mồi của bà khẽ miết lên mặt giấy bản ráp mịn. Mùi sáp ong quyện với mùi giấy cũ và khói bếp bao năm tích tụ bỗng tỏa ra, ngai ngái mà nồng đượm, đánh thức từng mảng ký ức tưởng chừng đã vùi sâu dưới đáy bùn phèn.

Hai mươi năm trước, vào mùa nước nổi năm Bính Thìn 1976, đất nước vừa dứt cơn binh lửa, ranh giới ruộng nương xứ Tân Bình Thạnh này còn ngổn ngang sau những đợt gom đất vào tập đoàn sản xuất. Khi ấy, ông Lộc tóc hãy còn xanh, ngày ngày dầm mình dưới nước ngập ngang thắt lưng để khai hoang ba mẫu hai công ruộng trũng. Ông không dùng dây kẽm hay cọc tre tạm bợ cắm trên mặt đất, bởi ông hiểu rõ cái nết của đồng nước Tháp Mười: con lũ thượng nguồn hung hãn tràn qua chỉ một đêm là cuốn phăng mọi bờ cõi người đời vun vén.

Đêm đêm bên ngọn đèn le lói, ông Lộc ngồi cặm cụi mài thỏi mực tàu trên nghiên đá, nắn nót ghi chép từng li từng tí vào cuốn sổ tay này. Cụ Hằng còn nhớ như in dáng chồng ngồi tựa lưng vào cột cái, bàn tay dính đầy bùn non chỉ vào từng trang vẽ “Bà nó coi nè. Nước lũ xóa được mặt đất chớ không xóa được rễ củ dưới đáy bùn. Giống sen trắng bản địa này rễ ngó ăn sâu, cuống dẻo dai, lá lượn sóng mềm chớ không xé rách theo sóng lớn. Tui vót cọc tràm già đóng sâu ba tấc hình mắt cáo quanh bồn rễ, khóa chặt ngó sen lại. Mai này dù nước có dâng cao ngập lút đầu ngọn, bờ bao có trôi đi, thì hàng sen trắng này vẫn mọc thẳng như giăng dây mực. Cứ lần theo cọc tràm ngầm dưới bùn là ra ranh đất ông bà.”

Khi ấy, cụ Hằng chỉ mắng yêu chồng lo xa quá mức, đất đai tình làng nghĩa xóm tối lửa tắt đèn có nhau, ai nỡ tranh giành từng tấc bùn lầy. Nào ngờ hai mươi năm sau, những lời dặn dò tưởng như cẩn thận thái quá ấy lại trở thành cứu cánh duy nhất của gia đình giữa cơn bĩ cực.

Cụ Hằng lật nhẹ từng trang giấy. Từng mũi tên chỉ sâu ba tấc dưới lớp bùn non, từng con số đo sải tay, từng nét vẽ búp hoa khum khum hiện lên rõ mồn một. Đây đích thực là mốc giới sắt đá mà người xưa để lại. Ruộng sen nhà họ Hứa chưa từng lấn sang đất lúa nhà thằng Tấn lấy nửa tấc bùn. Dải đất một tầm sào mà Tấn đòi xẻ đôi vào chiều mai hoàn toàn thuộc về mồ hôi nước mắt của ông Lộc khai phá từ thuở trước.

Thế nhưng, ngón tay cụ Hằng vừa chạm đến dòng chữ cuối trang bỗng chùng xuống, khựng lại giữa chừng.

Gió ngoài sông thổi thốc vào chái bếp, làm ngọn lửa ngả nghiêng. Lòng cụ trĩu nặng một nỗi âu lo buốt giá. Thời buổi này đã khác xưa nhiều lắm. Người trong xóm bây giờ chỉ chăm chăm nhìn vào tờ giấy trích lục địa chính có mộc đỏ của xã, vào chiếc thước thợ mộc đo thẳng tắp trên mặt đất ráo khô. Chiều mai, trước hiên nhà ngói của Trưởng ấp Tư Bình, giữa những ánh mắt nghi kỵ của thằng Tấn, thằng Cương và sự im lặng né tránh của ông Phước, liệu một cuốn sổ tay bọc vải dầu ố vàng, không con dấu, không chữ ký chính quyền có đủ sức nặng để lay chuyển lòng người?

Miệng đời vốn ác hiểm. Họ sẽ bảo bà già tám mươi tám tuổi này lẩm cẩm, bảo cuốn sổ vẽ hình hoa sen cọc tràm này là trò ngụy tạo của gia đình để hòng chiếm đoạt đất chung. Càng cãi cọ, bà cháu cụ càng mang thêm tiếng xấu tham lam giữa chốn đồng bãi.Thằng Đăng vẫn đứng im bên cạnh, đôi mắt thơ ngây dõi theo từng cái nhíu mày của bà nội. Nó ngập ngừng đưa bàn tay nhỏ nắm lấy vạt áo bà ba sờn mép của cụ “Bà… người ta có chịu tin chữ của ông nội ghi không bà?”

Tiếng hỏi ngập ngừng của đứa cháu nội nhói buốt vào lòng cụ Hằng. Cụ nhìn bàn tay gầy gò của đứa trẻ chín tuổi, nhìn bộ bà ba xanh thùng thình cắt sửa lại từ áo của người cha đã mất của nó. Thằng bé côi cút này chỉ có mỗi mảnh ruộng sen và bóng lưng còng của bà làm chỗ nương thân. Nếu cụ cứ tiếp tục thu mình phòng thủ, cứ nín thinh cam chịu để người đời xâu xé thửa ruộng trũng, thì mai này khi cụ nhắm mắt xuôi tay theo ông Lộc, đứa cháu này sẽ bấu víu vào đâu giữa cuộc đời đầy sóng gió?

Cụ Hằng siết chặt cuốn sổ trong lòng bàn tay. Đôi mắt một mí vốn lặng lẽ bỗng lóe lên một nét kiên định lạ thường.

“Mày cất cuốn sổ vô lại bọc vải dầu cho kỹ, đem để lên bàn con.” Cụ Hằng cất giọng trầm đục nhưng rành rọt từng tiếng. “Lấy cho bà bao diêm.”

Thằng Đăng lật đật làm theo. Cụ Hằng chống cây gậy tràm già, chậm rãi gượng đứng dậy khỏi mép phản. Dáng lưng còng của cụ in một vệt dài vững chãi lên vách nứa. Cụ bước từng bước chậm rãi lại gần chiếc bàn thờ treo trên vách giữa nhà, nơi đặt bát nhang sành và tấm hình chân dung ố vàng của ông Hứa Văn Lộc.

Cụ quẹt một que diêm, châm vào bấc cây đèn dầu nhỏ trên bàn thờ. Ánh lửa bừng lên soi rõ gương mặt đôn hậu, cương nghị của người chồng quá cố. Cụ Hằng rút ba nén nhang trầm cắm trên ống tre, châm lửa rồi giơ cao ngang mày. Khói nhang thơm nồng phảng phất, quyện với mùi bùn non ngai ngái ngoài đồng dâng lên.

“Ông Lộc à…” Cụ khấn thầm trong miệng, thanh âm nghẹn lại sau bờ môi móm mém. “Tôi gìn giữ ba mẫu hai công đất này suốt bảy năm trời sau ngày ông đi. Chiều mai có ra sao, tôi cũng dắt thằng cháu nội của ông ra giữa ruộng đối chất, quyết không để ai xúc phạm đến mồ hôi của ông, không để thằng Đăng chịu thiệt thòi một tấc đất.”

Cắm nén nhang thẳng thớm vào lòng bát sành, cụ Hằng quay lại nhìn Đăng. Thằng bé đang ngồi ngoan ngoãn bên bàn, hai tay ôm khư khư bọc vải dầu trước ngực như ôm một báu vật thiêng liêng. Ánh mắt non nớt của nó ngước nhìn cụ, không còn vẻ sợ sệt khóc lóc như ban chiều.

Cụ bước lại gần, đặt bàn tay khô ráp lên mái tóc húi cua lởm chởm của cháu nội “Ngủ đi con. Giữ sức mai lội bùn với bà.”

Ngoài trời, một cơn giông bất chợt từ mạn biên giới tràn về. Tiếng gió rít qua rặng tràm già ràn rạt từng hồi, mang theo hơi lạnh buốt của con nước thượng nguồn đang cuồn cuộn đổ về lòng kênh Dương Văn Dương. Dưới đêm đen mịt mùng, tiếng sóng vỗ ầm ầm vào chân đê đất, đe dọa cuốn phăng mọi dấu vết bờ bao còn sót lại trước khi trời kịp sáng.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.