Chương 5: Gói Vải Dầu Dưới đáy Rương
Tiếng sóng nước mùa lũ vỗ dồn dập vào chân vách nứa mỗi lúc một gắt, bì bọp từng chặp như muốn đẩy bung mấy cây cột kê tán đá xanh. Trong gian nhà chật chội, bóng tối bủa vây đặc quánh. Bà nội vẫn ngồi bất động nơi mép phản gỗ sứt sẹo, lưng còng gập xuống, chiếc gậy tràm già dựng nghiêng bên đùi. Bát cơm nguội ngắt với đĩa rau luộc đậy lồng bàn trên mâm tre vẫn y nguyên, không vơi lấy một hạt.
Minh Đăng đứng nép bên vách buồng, hai ngón tay cái bấu chặt vào gấu áo bà ba rộng thùng thình. Nó nhìn đôi vai gầy guộc của bà chìm trong bóng đen nhờ nhờ, ngực nhói lên từng chặp. Hồi nãy, lúc đỡ đầu gậy cho bà từ thềm bước vô, nó thấy bàn tay đồi mồi của bà lạnh ngắt như ngâm dưới nước phèn.
Nó rón rén bước xuống chái bếp, không dám quẹt diêm thắp đèn dầu vì sợ khói cay xộc vào chỗ bà ngồi. Đăng cúi người thổi nhẹ vào đám tro trấu trong góc lò cà ràng. Một đốm than đỏ le lói bừng lên. Nó gắp thêm vài nhánh củi tràm khô, với tay bưng chiếc ơ đất nhỏ múc bát nước mưa đổ vào. Đăng trút nửa bát gạo tấm còn sót trong đáy hũ sành, bắc lên bếp nhen lửa nấu một ơ cháo hoa.
Tiếng củi khô cháy lách tách xua bớt cái giá buốt đang bò lan từ sàn nước lên. Đăng ngồi chồm hổm canh lửa, chiếc muỗng dừa khuấy đều tay cho hạt gạo nở bung, sền sệt và bốc lên mùi thơm dịu ấm. Khi cháo chín nhừ, nó múc ra chiếc bát sành men da lươn, rón rén bưng lên nhà trên.
“Bà... bà húp miếng cháo nóng cho ấm bụng nghen bà,” Đăng bước tới gần phản gỗ, hạ giọng thiệt nhỏ. “Cháo tấm con nấu nhừ rồi, thơm lắm...”
Cụ Hằng không nhúc nhích. Ánh mắt một mí của bà vẫn dán chặt ra khoảng không đen ngòm ngoài khe liếp, nơi vệt nước phù sa đang cuồn cuộn nuốt chửng bờ bao mé Đông. Mãi một hồi lâu, bàn tay gầy guộc của cụ mới khẽ đưa lên, vỗ nhẹ vào mu bàn tay nhỏ thó của đứa cháu “Mày ăn đi... Bà không đói. Để đó lát bà húp sau.”
Giọng bà trầm đục, khô khốc như tiếng lá tràm cọ vào vách nứa mùa khô hạn. Đăng nhìn đôi môi móm mém mím chặt của bà, biết ý không dám nài thêm. Nó đặt bát cháo bốc khói lên đầu phản, kéo tấm manh rách đậy hờ lại để giữ hơi nóng.
Bên ngoài, gió chướng bất thần thốc mạnh qua rặng gáo nước. Một cơn giông đầu đêm tràn về xé toạc màn sương bạc. Mưa rào rào quất xuống mái lá dừa nước, gió giật từng chập khiến mấy tấm phên nứa bên hông buồng rung lên bần bật. Nước mưa mang theo hơi lạnh buốt giá bắt đầu tạt qua những khe liếp hở, rỏ tong tòng xuống nền đất nện, hắt thẳng vào góc phản nơi bà đang ngồi.
Cụ Hằng khẽ rùng mình, vạt áo bà ba đen ướt đẫm một mảng sẫm màu nơi bả vai.
Đăng giật thót mình. Nó nhớ ra trong góc buồng tối có chiếc rương cây gỗ mít cũ kỹ của ông nội để lại từ hồi nương dâu đổi bãi. Mùa nước nổi năm ngoái, trước khi cha mẹ nó qua đời, cha từng xếp mấy dải áo tơi lá chằm bằng lá cọ cất kỹ trong đó để che mưa gió lúc chèo xuồng ra đồng bãi.
Nó lật đật bước vào gian buồng trong. Chiếc rương gỗ mít to tướng nằm khuất sau tấm màn vải úa màu, bốn góc bọc đồng đã ngả màu ten xanh xám xịt. Đăng đứng kiễng chân nhưng mép rương cao ngang ngực nó. Thằng bé bèn kéo chiếc ghế đẩu con lại gần, trèo lên rồi hai tay ráng sức nhấc nắp rương nặng trịch. Một mùi ẩm mốc xen lẫn mùi tinh dầu tràm cũ xưa xộc thẳng vào mũi.
Nó thò tay mò mẫm trong lòng rương tối om. Trên cùng là mấy tấm chăn chiên bộ đội bạc phếch đã sờn rách mép gấu, tiếp đến là xấp bao bố tơi tả dùng để đựng lúa mùa. Đăng lôi được dải áo tơi lá ra ngoài, toan khép nắp rương lại thì bàn tay nó chạm phải một vật cộm cứng nằm sâu hoắm dưới đáy, kẹp chặt giữa hai cuộn lưới cước giăng cá lóc cũ mèm.Vật đó vuông vức, dày chừng hai lóng tay, mặt ngoài ram ráp trơn tuột. Đăng tò mò luồn cả cánh tay nhỏ thó xuống khe lưới, gỡ từng mắt cước gai đang quấn chằng chịt chung quanh. Nó dùng hết sức kéo vật đó lên.
Đó là một bọc vải dầu ám màu khói bếp sẫm đen, mép vải viền chỉ đỏ đã tưa sợi nhưng bốn góc còn nguyên vẹn. Bọc vải được buộc chặt bằng sợi dây gai se ba tao chắc nịch, thắt nút chữ công khéo léo theo lối đan lát của người đi rừng tràm thuở trước. Mặt ngoài lớp vải dầu phủ một lớp sáp ong khô cứng, ngăn không cho một giọt nước hay hơi ẩm nào ngấm vào bên trong suốt bao nhiêu mùa nước lớn nước ròng.
Đăng ôm bọc vải vào lòng, trèo xuống khỏi chiếc ghế đẩu. Nó mang dải áo tơi ra mép phản, nhẹ nhàng choàng qua bờ vai còng của cụ Hằng, ém kỹ hai mép lá che chắn cho bà khỏi làn mưa tạt “Bà khoác tạm cái áo tơi cho đỡ lạnh, gió tạt dữ quá bà ơi.”
Cụ Hằng đưa tay nắm lấy mép dải áo tơi lá, mắt vẫn đăm đăm nhìn ra dòng nước đêm, khẽ gật đầu một cái thật khẽ.
Đăng quay lại buồng, tò mò ngồi bệt xuống ngưỡng cửa. Nó đưa ngón tay mảnh khảnh cẩn thận gỡ từng nút thắt dây gai. Sợi dây bện bằng vỏ cây tràm rừng dai ngoét, phải mất một lúc lâu nó mới nới lỏng được nút gút cuối cùng. Lớp vải dầu mở ra, để lộ một cuốn sổ tay khổ hẹp, bìa bọc giấy xi măng màu vàng sẫm đã ngả màu cánh gián vì thời gian.
Đăng bước nhanh ra chiếc bàn con, với tay quẹt que diêm nhen lại ngọn đèn dầu hỏa, khum bàn tay che chắn ngọn lửa đang chao đảo trước gió. Đăng vội ôm cuốn sổ bước nhanh ra bàn, khum bàn tay che chắn ngọn lửa cho khỏi tắt.
Dưới ánh sáng vàng vọt le lói của bấc đèn, Đăng lật giở trang giấy đầu tiên. Giấy bản dày dặn, viền mép đã ố vàng lốm đốm những vệt thâm kim của sương gió đồng bãi. Hiện ra trước mắt đứa trẻ chín tuổi không phải là những con chữ li ti rắc rối của cán bộ xã, mà là những nét vẽ sơ đồ rành rọt bằng mực tàu đen nhánh.
Những nét mực tàu thẳng tắp kéo dài từ bờ bao đất vắt ngang qua thửa ruộng trũng. Trên từng đoạn vẽ, người xưa cẩn thận chấm những vòng tròn nhỏ đều tăm tắp, bên cạnh mỗi vòng tròn là hình vẽ một búp sen cách điệu với những cánh hoa khum khum, mép phiến lá uốn lượn sóng mềm mại không hề có răng cưa. Đăng tròn xoe mắt, hơi thở nó nghẹn lại trong lồng ngực. Từng cụm chấm mực trên trang giấy chạy thành một hàng dài dằng dặc, thẳng thớm y hệt vệt sen trắng bản địa mà ban chiều nó đã ngụp đầu nhìn thấy dưới dòng nước lũ mé bờ bao phía Đông.
Ngay bên cạnh sơ đồ hình vẽ là các ký hiệu mũi tên cắm sâu xuống tầng đáy, ghi chú rành rọt từng con số: “Bốn cọc tràm ngầm giữ bồn rễ”, “Sâu ba tấc dưới lớp bùn non”, và một dòng niên đại nắn nót viết bằng mực tím đã phai: “Mùa nước nổi năm Bính Thìn 1976”.
Lồng ngực Đăng phập phồng gấp gáp, hai bàn tay nó run run miết nhẹ lên mặt giấy. Đôi mắt nó lướt nhanh xuống góc dưới cùng của trang sơ đồ, nơi có một khung chữ nhật nhỏ viền mực tàu đỏ au. Dưới ánh đèn dầu chập chờn, mấy chữ quốc ngữ vuông vức, rành rọt hiện lên rõ mồn một trước mắt nó “Hứa Văn Lộc cẩn ghi — Giữ ranh ruộng sen Tân Bình Thạnh”.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
