Chương 4: Tiếng Nói Nơi Hiên ấp

Cụ Hằng lặng lẽ cắm mũi sào tràm xuống bãi bùn, ghìm mạn xuồng lại giữa tiếng gió chướng rít qua tai từng chặp. Nhìn theo hướng tay thằng Đăng trỏ vệt sen trắng thẳng tắp dưới làn nước lũ, ngực cụ phập phồng một nhịp thở dài. Những cọc tràm già ngậm sâu dưới bùn ba tấc từ hai mươi năm trước vẫn nằm yên đó, câm lặng như chính cái miệng già nua này trước thói đời nhiễu nhương.

“Chèo vô bến đi mày,” giọng cụ khàn đặc nhưng rành rọt. “Chuyện dưới đáy nước để đó cho đất trời phân xử. Chiều nay tới giờ hẹn ở nhà thằng Tư Bình rồi.”

Cụ dắt thằng Đăng lên sàn nước, giục nó bưng bao gương sen già cất vào chái bếp. Sau khi rửa sạch bùn non bám nơi gót chân, cụ với lấy chiếc gậy tràm già bóng lẫy dựng nơi góc vách, quàng thêm dải khăn rằn cũ sờn mép rồi một mình bước ra ngõ. Đoạn đường bờ đất dẫn sang xóm trên trơn như bôi mỡ sau những ngày dầm dề mưa ngập. Mỗi bước đi, đầu gậy tràm lại lún sâu xuống nền đất nhão nhoét nghe một tiếng “phập” nặng nề, bùn đỏ quạch bắn lên vạt áo bà ba đen đã bạc màu sương gió.

Hiên nhà trưởng ấp Tư Bình nằm trên giồng đất cao ráo nhất xóm, lợp ngói âm dương rêu phong, lúc này đã chật ních bóng người. Chiếc bàn dài bằng gỗ tràm gõ gồ ghề kê giữa hiên bày một ấm trà sứt vòi bốc khói lơ thơ. Khi tiếng đầu gậy của cụ Hằng gõ lộc cộc lên bậc thềm tam cấp, những tiếng xì xào râm ran chợt lặng đi trong chốc lát.

Năm hộ gia đình có bờ bao dính líu đến cánh đồng trũng đều đã tề tựu đông đủ. Nguyễn Văn Tấn ngồi ngay đầu ghế dài, hai bắp tay cuồn cuộn gác lên mặt bàn, mắt long sòng sọc nhìn vạt bùn còn dính trên ống quần cụ Hằng. Cạnh đó, Võ Kim Cương ngồi thu lu trên chiếc ghế đẩu, hai bàn tay thô kệch đan chặt vào nhau, mặt lầm lì như khúc gỗ mục.

“Bà Hằng tới rồi thì ngồi xuống đây đi,” Tư Bình nâng ấm trà rót một chén nước ngả màu vàng sẫm, giọng mang vẻ mệt mỏi của người phải đứng giữa hai lằn đạn. “Chuyện vỡ bờ bao mé Đông hôm qua làm ngập vạt lúa nhà anh Tấn, rồi lan sang mương cá của thím Bảy, bà con ai nấy đều nóng ruột. Giờ con nước mỗi lúc một dâng cao, không tính nhanh chuyện đắp lại thì cả cánh đồng này trôi sông hết.”

Cụ Hằng không ngồi. Cụ tựa hai bàn tay đồi mồi lên đầu gậy tràm, đứng sừng sững bên mép hiên, ánh mắt một mí trầm tĩnh quét qua từng gương mặt quen thuộc trong xóm “Mấy người gọi tui tới đây để bàn chuyện đắp bờ hay tính chuyện gì khác thì cứ nói toạc móng heo ra đi. Già này sống gần hết đời người rồi, tai chưa điếc đâu.”

Tấn đập mạnh bàn tay hộ pháp xuống mặt gỗ nghe một tiếng chát chúa, nước trà trong chén bắn tung tóe “Được! Bà nói vậy thì tui nói thẳng! Bờ đất bảy tấc nhà bà đắp ẩu tả từ đời nào, tới mùa nước lớn chịu không nổi sức ép nên bục ra, cuốn trôi nửa công lúa mùa của tui. Giờ nước ngập trắng xóa, xóa sạch cả lằn ranh cũ. Cái ruộng sen ba mẫu hai công của bà nằm lọt thỏm ngay rốn trũng, bao năm qua bà cứ cậy già rồi lấn dần ra phía ngoài. Giờ bờ vỡ rồi, cọc ranh trôi mất tích, bà phải lùi mé ruộng vô trong một tầm sào để tui lấy đất đắp lại bờ bao mới!”

“Anh Tấn nói đúng đó cụ Hằng!” Kim Cương chen vào, giọng cộc cằn chực xua tay theo số đông. “Nhà tui ở mé Bắc nước cũng đang tràn qua mấp nghé bờ rào. Ruộng sen của cụ trũng nhất, không có trích lục địa chính hay giấy tờ đo đạc gì rõ ràng từ hồi giao khoán tới giờ. Cụ ôm khư khư mảnh đất trũng đó rồi để vỡ bờ làm khổ lây cả xóm!”

Nghe những lời quy chụp sắc nhọn chĩa vào mình, ngực cụ Hằng nhói lên từng chặp nhưng nét mặt cụ vẫn phẳng lặng như mặt nước đầm sen trước cơn dông. Cụ hơi nghiêng đầu, giọng chậm rãi nhưng đanh thép “Thằng Tấn, mày ăn nói cho cẩn thận cái miệng. Năm một chín bảy mươi sáu, tía mày với ông Lộc nhà tao cùng xắn quần lội bùn đắp cái bờ bao phía Đông đó. Đất đai từ thời mở cõi tới giờ, tấc đất nào của nhà họ Hứa thì nằm yên tấc đó, chưa bao giờ tao thèm thò tay bòn rút một nắm bùn của ai. Mày bảo tao lấn đất, giấy tờ trích lục của mày đâu, chìa ra đây cho cả xóm coi thử?”

Tấn nghẹn họng, mặt đỏ bừng như gấc chín. Thời buổi đất khoán sau giải phóng, ở cái xứ phèn chua nước mặn này, giấy tờ chỉ là những mảnh giấy viết tay úa vàng của tập đoàn nông nghiệp cũ, làm gì có bản đồ địa chính rạch ròi phân chia từng thước đất.

Ngồi ở mé hiên bên kia, Lê Thị Bảy bồn chồn đứng ngồi không yên. Thím sốt ruột vén vạt áo bà ba quạt phành phạch, cất giọng the thé cắt ngang:“Thôi thôi, mấy người bớt cãi cọ đi! Tui không cần biết hồi xưa ai đắp với ai, tui chỉ lo cái mương cá lóc giống mé Nam nhà tui kia kìa! Nước tràn qua bờ bao sen một đêm nữa thôi là cá trôi sạch ra sông Vàm Cỏ Tây. Giờ mạnh ai nấy nhường một bước, san phẳng cái ranh giới tranh chấp đó đi rồi xúm nhau vác cuốc xẻng đắp đê ngăn lũ. Chậm trễ là cả đám chết đói!”

Trước những lời ồn ào giằng xé, chỉ có một người nãy giờ vẫn ngồi im như hóa đá nơi góc cột. Trần Hữu Phước còng lưng vê điếu thuốc rê sâu róm, tàn lửa đỏ leo lét phả ra làn khói xám khét lẹt. Cụ Hằng đưa mắt nhìn thẳng vào người bạn láng giềng cùng thời với chồng mình năm xưa. Nhưng ông Phước không dám ngẩng lên. Đôi mắt kèm nhem của ông dán chặt xuống nền gạch tàu, hai ngón tay vàng khè vì khói thuốc run run lảng tránh cái nhìn của cụ Hằng. Ông biết rõ chuyện cọc tràm năm xưa, nhưng đứng trước cái bóng hộ pháp và sự hung hãn của thằng Tấn, ông chỉ chọn cách ngậm tăm để giữ lấy sự yên thân cho gia đình.

Thấy cuộc phân xử ngày càng bế tắc, Tư Bình thở dài thườn thượt, gõ tẩu thuốc xuống cạnh bàn “Bà con nghe tui nói một câu công bằng. Thời bao cấp chia ruộng khoán tập đoàn, trên xã chỉ cắm mốc ước lệ bằng mô đất với gốc cây tràm. Giờ con nước năm chín mươi sáu này hung dữ quá, cuốn trôi hết dấu tích rồi. Nhà cụ Hằng không có giấy tờ trích lục, mà bên anh Tấn anh Cương cũng chẳng có bản đồ giải thửa. Cứ cãi nhau thế này thì nước ngập lút nóc nhà!”

Tư Bình dừng lại nhìn cụ Hằng, giọng chùng xuống pha chút ái ngại “Nếu chiều mai hai bên không ai đưa ra được chứng cứ hay mốc giới rõ ràng để thuyết phục bà con, thì theo lệ làng, dải đất tranh chấp một tầm sào này buộc phải chia đôi. Mỗi bên lùi nửa tầm sào để lấy đất chung đắp lại bờ bao kiên cố. Cụ Hằng thấy sao?”

Một tầm sào chia đôi có nghĩa là cắt phăng đi vạt sen trắng bản địa quý giá—nơi rễ củ đã bám sâu giữ đất suốt hai mươi năm, nơi mồ hôi của ông Lộc hòa vào bùn phèn. Cụ Hằng siết chặt bàn tay vào thân gậy tràm, những khớp xương ngón tay nhô lên trắng bệch dưới làn da đồi mồi chằng chịt.

“Đất của chồng tui khai phá, từng gốc sen bám rễ đều có trật tự của nó,” cụ Hằng nói, giọng như vọng lên từ lòng đất lạnh. “Tui không nhường một tấc đất oan ức nào hết. Nhưng tui cũng không thèm lấy không của ai nửa tấc bùn. Trời có mắt, đất có linh, ai gian ai ngay rồi con nước rút đi sẽ thấy rõ.”

Dứt lời, cụ xoay gót, chiếc gậy tràm chống mạnh xuống thềm nhà. Cụ một mình bước xuống từng bậc tam cấp, bỏ lại sau lưng những ánh mắt ngờ vực, soi mói và những tiếng xì xào to nhỏ của xóm giềng “Già cả rồi mà còn cố chấp...”

“Chắc cậy ruộng trũng lâu năm nên lấn chiếm riết quen thói...”

Bóng chiều tà buông xuống vội vã trên cánh đồng ngập lũ. Màn sương chiều lành lạnh bốc lên từ mặt nước bạc, mang theo mùi tanh nồng của bùn non và cỏ mục. Tiếng ếch nhái râm ran khắp các bãi bồi, từng bầy chim le le vỗ cánh bay dạt về phía rừng tràm xa tít tắp.

Cụ Hằng lần từng bước trơn trượt trở về căn nhà lá quạnh quẽ. Chái bếp đã tối om, thằng Đăng đã ngoan ngoãn nhóm lửa thổi chín nồi cơm trắng từ lúc nào, trên mâm tre chỉ có đĩa rau muống luộc chấm nước tương kho quẹt đậy lồng bàn cẩn thận. Thấy bóng bà về, thằng bé vội vã chạy ra đỡ lấy đầu gậy, đôi mắt tròn xoe nhìn khuôn mặt tái nhợt của cụ.

Cụ Hằng xua tay, ngồi bệt xuống mép phản gỗ sứt sẹo, khẽ lắc đầu khi thằng Đăng bưng bát cơm nóng hổi lên mời. Cụ không nuốt nổi một hạt cơm. Nhìn qua khe vách nứa về phía bờ bao phía Đông đang chìm dần trong màn đêm đen đặc của mùa lũ, bà cụ tám mươi tám tuổi chỉ nghe thấy tiếng sóng nước vỗ ì oạp vào chân vách như muốn nuốt chửng mảnh đất hương hỏa cuối cùng.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.