Chương 11: Bên Bóng Cây Gáo

Con nước đỏ quạch dềnh lên mấp mé mép bến sau nhà, cuốn theo từng cụm rễ bèo tây trôi dập dềnh. Minh Đăng đứng nép bên cột chái bếp, mắt dán chặt về lối bờ mương xa xa nơi bóng áo đen của bà vừa chìm vào màu vàng rực của rặng điên điển lúc sập tối. Lời bà dặn hồi ban chiều vẫn rành rọt bên tai: mang tấm vẽ than củi về bến cất cho kỹ rồi ngồi yên trong bếp đợi bà.

Đăng quỳ gối trên nền đất nện, nhẹ tay luồn tấm bìa cáctông thùng mì tôm vào khe hẹp giữa bồ lúa quây bằng cót tre và vách đất. Vết than củi đen nhánh trên mặt bìa vẫn còn vương bụi tro ram ráp nơi đầu ngón tay. Đăng vuốt lại mép bao tải rách phủ kín miệng bồ để che chắn, thở hắt ra một hơi dài. Trong lòng nó như có đàn kiến lửa bò râm ran. Đã hơn nửa tuần hương trôi qua từ lúc bà bước qua bờ ranh phía Tây nói chuyện với ông Phước, mà ngoài ngõ vẫn chỉ có tiếng gió chướng rít qua ngọn tràm.

Không nén nổi sốt ruột, thằng bé bước thoăn thoắt xuống bến, gỡ mối dây dừa cột mũi xuồng ba lá rồi nhẹ nhàng nhảy xuống khoang. Nó không dám khua dầm mạnh, chỉ dùng bơi chèo ngắn gạt nhẹ từng ngụm nước đục, nương theo bóng râm của rặng bình bát ken dày ven bờ kênh mà rà tới. Mũi xuồng lướt êm ru trên váng bọt phù sa. Trôi thêm một đoạn chừng vài chục sải tay, con nước xoáy đưa mạn xuồng tấp vào sát gốc một cây gáo nước cổ thụ mọc chìa ra mé rạch, ngay sau mé vườn nhà ông Tấn.

Tán gáo sum suê rủ những chùm lá bản to che khuất cả nửa lòng rạch. Đăng vừa buông dầm níu lấy một nhánh rễ gáo trồi trên mặt nước thì trên bờ đất cao, sát chái hè nhà ông Tấn, tiếng người nói oang oang bỗng đập thẳng vào tai.

"Uống cạn chén này đi anh Tấn, anh Cương! Rượu nếp ngã ba chợ tui đem vô, thơm lừng cay xé họng!"

Giọng nói lanh lảnh, mang âm sắc giòn tan của dân buôn bán miệt chợ nổi vang lên. Đăng rụt cổ lại, lách mình sâu hơn vào vòm lá rậm rạp. Qua khe lá gáo xanh ngắt, nó nhìn thấy ba người đàn ông đang ngồi quanh chiếc bàn tre con đặt dưới mái hiên lá dừa nước. Ngọn đèn măngxông treo lủng lẳng trên xà tre tỏa ra thứ ánh sáng trắng gắt, soi rõ chiếc đĩa sành đựng mấy con khô lóc nướng cháy sém cùng chai rượu đế nút lá chuối.

Ngồi đối diện ông Tấn vạm vỡ và chú Cương lầm lì là một người đàn ông lạ hoắc, mặc áo sơ mi màu mỡ gà, cổ tay đeo chiếc đồng hồ kim loại lấp loáng. Chiếc vỏ lãi composite gắn máy đuôi tôm công suất lớn của gã đang neo ngay dưới chân cầu ván cách đó không xa.

Ông Tấn bưng chén rượu con hớp một ngụm lớn, khà ra hơi men nồng nặc rồi dằn mạnh đáy chén xuống mặt tre "Anh Hai thông cảm, xóm này đất đai bao đời nay bờ bao liền mí. Ngặt nỗi con nước năm nay hung dữ quá, xé toang bờ phía Đông của tui với bà cụ Hằng. Chiều nay tui tính làm dứt điểm trước mặt ấp Tư Bình, ai dè con mụ già cứng đầu quá đỗi, cứ vin vào mấy chuyện khai hoang đời nảo đời nào."

Gã thương lái cá lóc cười nhạt, ngón tay gõ nhịp đều đặn lên mặt bàn "Tui lặn lội từ ngoài thị trấn vô cái xứ rốn phèn này không phải để nghe mấy anh than vãn chuyện ranh giới xóm giềng. Tui nói thẳng cho anh Tấn với chú Cương đây rõ: cái vạt trũng ba mẫu hai công trồng sen của bà già đó là cái rốn túi nước. Múc bùn sâu xuống một sải tay, be bờ bao đất cao một thước hai bọc quanh cả cánh đồng này, thả ba vạn con cá lóc bông giống vô nuôi mùa lũ thì tới tháng Mười Một âm lịch hốt bạc triệu. Mối làm ăn tiền tươi thóc thật, mấy vựa cá lớn dưới bến xe họ cọc sẵn cả rồi."

Chú Cương ngồi co ro bên góc bàn, hai bàn tay chai sạn mân mê mép chén rượu, giọng ngập ngừng "Nhưng mà... anh Hai nè, bà cụ Hằng giữ cái đám sen đó kỹ lắm. Cụ nói đó là đất hương hỏa ông Lộc để lại cho thằng cháu nội mồ côi. Mình dồn bách quá, lỡ mai mốt xóm giềng dị nghị...""Dị nghị cái con khỉ mốc!" Ông Tấn đỏ bừng mặt, trừng mắt ngắt lời chú Cương. "Thời buổi này ai ôm sen mà no cái bụng được? Cả xóm người ta lo làm ăn, mình ôm mấy vạt bông sen kiếm vài đồng bạc lẻ ép dầu thắp đèn à? Chiều mai thằng Tư Bình với cán bộ xã xuống đo đạc, cứ căn theo mặt nước lũ mà vạch ranh. Đất ngập trắng xóa, lấy đâu ra dấu vết bờ cũ? Cứ ép bả lùi sâu vô một tầm sào, cắt đứt vạt trũng phía ngoài. Chừng đó bả không có đường thoát nước ra kênh lớn, giữ sen cũng chẳng đặng, buộc lòng phải sang tay lại cho tụi mình thôi!"

Gã thương lái nhếch mép cười khẩy. Gã thọc tay vào chiếc túi vải bạt đặt bên hông ghế, rút ra một cọc tiền giấy bạc dày cộm, buộc chặt bằng cọng dây thun màu đỏ. Những tờ giấy bạc năm nghìn, mười nghìn đồng còn mới cứng đập "bẹp" một tiếng khô khốc xuống mặt bàn tre.

"Tiền cọc năm triệu đồng tui để sẵn đây." Gã thương lái chống hai tay lên bàn, giọng lạnh tanh dứt khoát. "Tui cho các anh thời hạn đúng chiều mai. Nếu cái xóm Tân Bình Thạnh này dọn sạch được cái vạt ranh, gom đủ diện tích để tui đem xáng cạp vô múc đầm nuôi cá, thì cọc tiền này chia đôi cho hai nhà anh Tấn với chú Cương sắm đồ nghề, mua thêm lưới cước. Bằng như chiều mai mà còn dùng dằng, cãi cọ không xong cái bờ ranh với bà già đó, thì sáng mốt tui rút ghe sang mạn bên Vàm Cỏ Tây. Bên đó người ta đón tui như đón vàng, chẳng rảnh đâu mà ngồi đợi mấy anh kỳ kèo từng thước đất phèn."

Dưới bóng tối dày đặc của bụi gáo, Minh Đăng chết trân trên khoang xuồng ba lá. Hai bàn tay nó bấu chặt vào be xuồng đến mức đầu móng tay tước cả dằm gỗ đau nhói. Từng câu từng chữ của gã lái cá và ông Tấn dội thẳng vào màng tai nó như sấm sét giữa ban ngày.

Tụi nó muốn đem máy xáng cạp vô! Tụi nó muốn múc tung bùn đất, đào xới toàn bộ ba mẫu hai công ruộng sen để biến thành cái hầm nuôi cá lóc!

Đăng nhìn xuống chân cây gáo cổ thụ. Từng đợt sóng nước vỗ dập dềnh xói mòn từng mảng bùn non quanh rễ cây, làm trơ ra những mấu gỗ sần sùi. Nó mường tượng ra cảnh những đài sen trắng ngọc ngà, những đóa sen hồng Tháp Mười vươn cao kiêu hãnh và cả những hạt sen vàng óng ả làm dầu gia truyền của ông nội sẽ bị gầu sắt máy ủi nghiền nát dưới đáy bùn lầy. Cả mảnh đất mà ông Lộc đã đổ mồ hôi cắm cọc tràm giữ rễ suốt hai mươi năm, nơi nương tựa duy nhất của hai bà cháu nó, sắp sửa bị người ta xé vụn ra để đổi lấy cọc tiền giấy bạc kia.

Một nhánh gáo khô trên đầu bị gió giật gãy, rơi đánh "tõm" một tiếng xuống mặt nước sát mạn xuồng.

"Ai ngoài rạch đó?" Ông Tấn giật thót mình, quát lớn rồi đứng bật dậy ngó nghiêng ra phía bờ gáo tối om.

Đăng không kịp nghĩ ngợi gì thêm. Nó cúi rạp người sát đáy xuồng, dùng tay không khoát nước thật lẹ rồi nhẹ nhàng nương theo dòng chảy đẩy mũi xuồng trôi lùi ra xa. Khi đã lọt vào khoảng tối mịt mùng của hàng bình bát, nó mới dám cầm chèo lên, dốc hết sức bình sinh khua nước cuồn cuộn. Nước lũ bắn tung tóe lên mặt, ướt sũng vạt áo bà ba xanh rộng thùng thình, nhưng thằng bé không thấy lạnh. Cả người nó run rẩy từng chặp vì nỗi khiếp hãi tột cùng đang cuộn trào trong lồng ngực.

Chiếc xuồng lao xé nước cập bến sau nhà cụ Hằng. Đăng không buồn cột dây, bỏ mặc mũi xuồng va côm cốp vào bậc đất lầy rồi ba chân bốn cẳng lao lên bờ.

Trong chái bếp, ánh lửa từ bếp trấu un muỗi hắt ra le lói. Cụ Hằng vừa từ bờ mương phía Tây trở về, đang chậm rãi treo chiếc nón lá rách lên vách nứa. Nghe tiếng bước chân hớt hải cùng tiếng th* d*c dồn dập ngoài thềm, bà quay người lại, tay chống chiếc gậy tràm già.

Đăng nhào tới bậu cửa, hai bàn tay run bần bật túm chặt lấy vạt áo bà ba đen sờn mép của bà. Hơi thở nó đứt quãng, lồng ngực phập phồng dữ dội "Bà ơi... Bà nè... Nguy to rồi bà ơi! Chú Tấn... chú Tấn với lái buôn thị trấn đặt cọc tiền... Chiều mai tụi nó tính ép ranh cho bằng được để đem xáng cạp vô bứng sạch ruộng sen, đào đầm nuôi cá lóc bông rồi bà ơi!"

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.