Chương 4: Quân Lệnh Trạng Bảy Ngày

Lời chất vấn sang sảng của Thẩm Dịch như tiếng sấm rền giáng xuống khoảng đất trống ven bờ sông Lục. Không khí quanh khu lò rồng ngưng đọng trong sự tĩnh mịch đến rợn người. Hơn một trăm thợ gốm của Bạch Vân Đường vẫn rạp mình sát lớp đất cát ẩm ướt, không một ai dám cất tiếng thở mạnh. Gió chiều từ mặt sông thổi thốc vào bến bãi, rít qua các cửa gió trên vòm lò, cuốn theo mùi tro than nồng gắt và vị phù sa ẩm lạnh.

Thạch Trọng khẽ siết chặt bàn tay. Những lằn roi rách toạc sau lưng nhói buốt theo từng nhịp thở, nhưng sự đau đớn thể xác ấy không thể lay chuyển tâm trí sắc bén của chàng. Bức tranh toàn cảnh đã hiện lên rõ rệt: mười tám chiếc bình ngự dụng tan tành, kho quặng bị đánh tráo, kẻ gian mượn tay quan trường bức tử quan xưởng, và lưỡi đại đao của đao phủ chỉ vừa tạm dừng trên phiến đá hộc. Nếu không có kẻ dám bước ra gánh vác mớ tàn cuộc này, toàn bộ thợ thuyền Bạch Vân Đường chỉ còn con đường chết.

Hít sâu một hơi để ổn định lồng ngực đang phập phồng, Trọng quỳ thẳng lưng, hai vai mở rộng, ngẩng cao đầu nhìn thẳng vào vị Ngự sử Hình bộ. Giọng chàng vang lên đĩnh đạc, cắt ngang tiếng gió rít bên bờ sông “Khởi bẩm ngự sử đại nhân, thảo dân Thạch Trọng nguyện đem tính mạng này gánh vác việc lớn!”

Thẩm Dịch khẽ nhướng đôi mày kiếm, ánh mắt sắc như lưỡi dao cau khóa chặt lấy gương mặt ngăm đen phong sương của chàng “Ngươi dám nhận trọng trách này? Dựa vào đâu?”

“Dựa vào đôi bàn tay của thợ gốm Bạch Vân Đường và quốc pháp anh minh của Đại An!” Trọng dõng dạc đáp, từng câu từng chữ rành rẽ như khắc vào đá. “Đại điển sắc phong Thái tử còn đúng mười ngày nữa sẽ cử hành tại kinh đô Thăng An. Đoạn đường từ đây về kinh thành dài ba mươi dặm, nếu dùng xe ngựa bọc đệm cỏ khô vận chuyển cẩn mật thì chỉ mất chưa đầy nửa ngày. Thảo dân khẩn xin đại nhân ban cho kỳ hạn đúng bảy ngày bảy đêm! Trong bảy ngày bảy đêm ấy, thảo dân sẽ tự tay đãi quặng, vuốt cốt thai, ủ men tro và khơi lại ngọn lửa lò rồng, chế tác nên một chiếc bình men lam thượng phẩm toàn bích dâng lên triều đình, rửa sạch mối oan khuất cho hơn một trăm con người nơi đây!”

Lời vừa dứt, một tiếng quát the thé đầy kinh hãi lẫn giận dữ vang lên xé toạc không gian.

Đỗ Bỉnh Đức như bị giẫm phải đuôi, nhảy dựng lên như phải bỏng. Chiếc áo the thêu hoa văn mây ám phất phơ tán loạn khi gã vội vã lấy ống tay áo chùi mồ hôi hột trên trán, ngón tay run rẩy chỉ thẳng vào mặt Trọng “Càn rỡ! Thật là càn rỡ đến cực điểm! Đại nhân chớ nghe lời xằng bậy của tên tiện thợ này! Quy chế quan xưởng từ xưa đến nay, một mẻ đồ ngự dụng muốn thành hình phải trải qua cả tháng ròng ủ đất, chuốt cốt, hong gió, vẽ nét lam rồi mới vào bao nung. Bảy ngày bảy đêm? Ngươi đang nằm mộng giữa ban ngày sao? Đất chưa ráo nước mà đưa vào lò thì chỉ có nổ tung thành trăm mảnh! Đây rõ ràng là trò ma mãnh hoang đường nhằm kéo dài mạng sống của một kẻ tử tù!”

Đỗ Bỉnh Đức quay phắt sang phía Thẩm Dịch, khúm núm cúi rạp người “Đại nhân, ngài ngàn vạn lần chớ để nó lừa gạt! Thời hạn mười ngày kề cận, nếu tin lời cuồng ngôn này, đến ngày đại điển không có vật phẩm dâng ngự, tội khi quân ấy bản quan và đại nhân làm sao gánh nổi trước hoàng thượng? Chi bằng lập tức chém đầu thị chúng để răn đe lũ thợ lười biếng gian giảo!”

Dưới nền đất cát, lão thợ cả Cố Lão Sơn run rẩy như chiếc lá rụng trước cơn cuồng phong. Vết rách toác trên trán lão rỉ máu, hòa với bùn đất đỏ quạch nơi khóe mắt. Nghe đệ tử đòi nhận kỳ hạn bảy ngày, lão hoảng hốt dập đầu chan chát xuống nền đá hộc, giọng nghẹn ngào trong nước mắt “Ngự sử đại nhân bớt giận! Xin đại nhân khai ân giáng tội lên thân già còng này! Trọng nhi... nó tuổi trẻ bồng bột, đầu óc mê muội vì đòn roi nên mới ăn nói cuồng dại trước uy nghiêm của ngài! Trăm lạy đại nhân, ngàn lạy đại nhân, ngài đừng chấp lời con trẻ...”

Nói đoạn, lão Cố vội xoay người, hai bàn tay thô ráp, chai sạn nứt nẻ nắm chặt lấy gấu áo rách của Trọng. Đôi mắt đục ngầu của người thợ già đong đầy nỗi kinh hoàng tột cùng “Trọng nhi! Con điên rồi sao con ơi? Mau dập đầu tạ tội với đại nhân đi! Đồ ngự phẩm kích thước lớn nhường ấy, phôi mộc vuốt xong còn ngậm đầy nước, không hong gió nửa tháng thì làm sao se cứng? Tro trấu nếp chưa ủ chín, khoáng thạch chàm sạch lại không có một hạt, làm sao làm ra men ngọc? Một khi khui lò mà bình nứt vỡ thêm một lần nữa, thì không chỉ đầu con rơi xuống... mà cả trăm sinh mạng nơi bến sông này đều phải chôn chung theo con dưới đáy hố tro! Con mau rút lời lại!”

Nhìn vệt máu tươi đang chảy ròng ròng trên gương mặt đầy nếp nhăn của người thầy đã nuôi nấng mình, một luồng nhiệt nóng ấm dâng lên nơi lồng ngực Trọng. Nhưng chàng không hề dao động. Trọng đưa bàn tay thon dài, rắn rỏi phủ lên đôi bàn tay già nua đang run bần bật của lão Cố, siết nhẹ.Ánh mắt chàng nhìn sư phụ không có chút bốc đồng, chỉ có sự điềm tĩnh thâm sâu của một bậc thầy từng đối diện với muôn vàn bảo vật vỡ nát nơi kiếp trước.

“Sư phụ,” Trọng khẽ nói, âm lượng trầm ấm nhưng đanh chắc như gang thép, “con không điên. Con biết cốt đất phải se ra sao, biết tro trấu cần hòa quyện thế nào, và con biết cách ghìm giữ ngọn lửa thiếu khí trong lòng lò rồng để màu lam thăng hoa. Người hãy nhìn xem, lùi một bước là nhát đao chém đầu oan khuất, chỉ có tiến tới dưới ánh lửa lò, xưởng thợ của chúng ta mới có thể phá kén hồi sinh. Xin sư phụ hãy tin con một lần!”

Ánh mắt kiên định dị thường của người thanh niên trẻ tuổi như mang theo một sức mạnh vô hình, khiến đôi bàn tay đang run rẩy của lão Cố bỗng chốc khựng lại. Lão thẫn thờ nhìn đồ đệ, miệng mấp máy nhưng không thốt nên lời.

Trọng buông tay lão Cố, xoay người dập đầu sát đất trước án thư của Thẩm Dịch rồi dõng dạc cất lời “Khởi bẩm ngự sử đại nhân! Lời thảo dân thốt ra, có đất trời sông Lục soi xét, có trăm miệng lò rồng chứng giám. Thảo dân cam đoan sẽ không dùng đến quặng đá tạp chất đã bị pha xỉ sắt kia, mà tự tìm cách tinh chế lại bột màu; sẽ không dùng cách nung lửa thừa khí làm cháy hỏng áo men, mà đích thân canh giữ hỏa đạo suốt ba mươi sáu canh giờ. Nếu sau bảy ngày bảy đêm, tại cửa lò rồng này không khui được một chiếc bình men lam cao một thước tám tấc toàn bích, sắc xanh biếc tựa ngọc, âm vang trong trẻo như khánh đá dâng lên đại điển, thảo dân xin lập quân lệnh trạng!”

Chàng ngước mắt lên, giọng nói vang vọng khắp bến sông “Khi ấy, xin đại nhân chém đầu thảo dân trước cửa lò để tạ tội khi quân, và thảo dân chấp nhận chịu tội chém cả xưởng, không một lời oán thán!”

“Chém cả xưởng!”

Ba chữ rợn người ấy thốt ra khiến hơn một trăm thợ gốm đồng loạt run bắn. Không ít người ngửa mặt lên trời bàng hoàng, nhưng khi nhìn thấy tấm lưng đẫm máu mà vẫn đứng thẳng tắp như ngọn tùng của Thạch Trọng, nỗi sợ hãi trong lòng họ dần nhường chỗ cho một niềm hy vọng mong manh trỗi dậy giữa bờ vực tuyệt lộ.

Thẩm Dịch đứng sừng sững bên án thư, tà áo bổ phục màu lục khẽ lay động trong làn gió bấc buốt giá. Đôi mắt sắc bén của vị Ngự sử Hình bộ nheo lại, quan sát từng cử chỉ, từng đường nét trên khuôn mặt Thạch Trọng. Không có sự hoảng loạn của kẻ cùng đường liều mạng, cũng không có vẻ xảo quyệt của phường gian manh. Trước ánh mắt sắc bén như lưỡi dao cau của vị Ngự sử Hình bộ, Trọng vẫn giữ nguyên vẻ điềm tĩnh, ánh mắt sâu thẳm như mặt nước giếng cổ.

Chàng hiểu rõ Thẩm Dịch đang đứng trước một canh bạc lớn: nếu từ chối, triều đình chắc chắn sẽ thiếu hụt ngự phẩm trong ngày sắc phong trọng đại, và vụ án mờ ám này sẽ vĩnh viễn bị chôn vùi theo cái chết của đám thợ phụ.

Thẩm Dịch hít một hơi dài, bàn tay buông khỏi chuôi kiếm, lạnh lùng hạ lệnh “Người đâu! Lấy nghiên mực, trải giấy lệnh!”

Nha sai Hình bộ lập tức vâng lệnh, mang một tờ giấy hoa tiên vàng dày dặn đặt lên án thư gỗ lim, mài sẵn thỏi mực đen nhánh.

Thẩm Dịch bước tới trước án, nhưng không cầm bút mực đen. Y với tay rút cây bút lông đầu bọc bạc, chấm ngập ngọn bút vào âu chu sa đỏ rực như máu tươi đặt cạnh thẻ bài ngự sử. Ngọn bút son vung lên, những nét chữ sắc sảo, dứt khoát như đao chém búa bổ hiện rõ trên nền giấy vàng: Quân lệnh trạng bảy ngày bảy đêm phục chế bảo vật men lam!

Ký xong chữ ký đỏ thắm, Thẩm Dịch ấn mạnh ngự bài bằng đồng xuống góc giấy, để lại dấu triện vuông vức đỏ au. Y ngẩng đầu lên, ánh mắt lạnh lẽo quét qua Thạch Trọng và đám thợ cả đang nín thở “Thạch Trọng, nghe cho rõ đây! Bút son đã hạ, quân lệnh trạng lập tức có hiệu lực! Bản viện ban cho ngươi bảy ngày bảy đêm cùng toàn quyền điều động lò nung và nhân lực tại Bạch Vân Đường. Nhưng chớ quên lời thề độc ngươi vừa thốt ra! Nếu quá giờ Ngọ ngày thứ bảy, lò rồng không cho ra bảo vật toàn bích, đừng trách Hình bộ vô tình: đầu của ngươi và toàn bộ thợ cả Bạch Vân Đường sẽ chịu chung một lưỡi đao trảm quyết!”

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.