Chương 9: Tiếng Gậy Ngà Trước Sân Lò

Cụ Chu Hoài Cảnh ngồi nơi mé chõng tre trước thềm đá nhà rường, hai bàn tay khô ráp đặt hờ lên đầu gậy tre ngà. Đôi tai tường tận của một người sống trọn một trăm linh hai năm đã nghe rõ mồn một từng tiếng gõ mạn thuyền chát chúa từ bến sông Trà Khúc dội vào, theo sau là tiếng bước chân huỳnh huỵch giẫm nát lớp sỏi mịn nơi ngõ rào tre. Qua làn khói xám cay xè của hai vạc mật hỏng đang cuộn tròn trên sân, khứu giác già nua của cụ bắt được một luồng khói thuốc lá thơm nồng nặc mùi ngoại bang, xen lẫn hơi ẩm ngai ngái của nước sông mùa cạn.

Kẻ giật dây cuối cùng cũng đã lộ mặt.

Lại Bá Hào sải những bước chân nặng nề vượt qua khung cửa ngõ rào tre. Thân hình béo tốt trong tấm áo gấm Thượng Hải màu xanh sẫm thêu hoa rung rinh theo từng nhịp thở, tay cầm chiếc tẩu thuốc bịt bạc sáng lóa. Bám gót y là năm sáu tên tùy tùng mặt mày bặm trợn, tay lăm lăm đòn càn và thước gỗ đo vải. Phía sau cùng, Lý trưởng Phan Đăng Khôi vội vã rảo bước theo vào, chiếc quạt trúc trên tay phe phẩy dồn dập, nét mặt lộ rõ vẻ bối rối của người đứng giữa hai lằn ranh lệ làng và tiền bạc.

Vừa bước chân vào khoảng sân lò Cảnh Ký, Lại Bá Hào liền đưa tay áo gấm lên che mũi, làm bộ sặc sụa rồi ho khan mấy tiếng chát chúa. Đôi mắt ti hí của y đảo qua hai vạc đồng đang sủi váng đen kịt, khóe môi khẽ nhếch lên một nụ cười đắc ý trước khi cố gằn giọng thật nghiêm nghị — Khét! Cay xè cả mắt mũi! Cụ Cố Chu ơi là cụ Cố! Bản quán cứ ngỡ lò Cảnh Ký bốn đời danh giá là chốn luyện ngọc đúc vàng, nào ngờ vừa mở mắt ra đã thấy các người nhóm lửa hun khói thối cả một khúc sông Trà thế này!

Tiếng nói the thé giả lả của Hào như gáo nước sôi dội vào đám đông họ Chu đang chia rẽ. Mấy người chi thứ sợ hãi dạt sang hai bên thềm lò. Chu Thúc Khiêm vội vàng lùi lại nửa bước, mắt lấm lét nhìn gã thương nhân rồi cúi gằm mặt xuống.

Lại Bá Hào không thèm nhìn đám thợ bạn, y xăm xăm bước tới trước mặt Lý trưởng Phan Đăng Khôi và đám đông họ tộc, tay thọc sâu vào bọc áo rút ra hai tờ giấy điều có dấu triện mực son đỏ chót. Một tờ là giấy nợ cờ bạc năm trăm đồng bạc hoa xòe mang tên Chu Thúc Khiêm, tờ kia là bản sao giao kèo mua bán hai trăm tạ đường phèn. Y giơ cao hai tờ giấy, vỗ mạnh mu bàn tay vào mặt giấy tanh tách — Ông Lý và bà con làng An Hội nghe cho rõ đây! Thương quán Vạn Hưng chúng tôi bỏ ra bạc vạn để mua đường hảo hạng chở đi Nam Kỳ, hạn định giao hàng tại cảng Thu Xà đã cận kề. Nay vạc mật đầu tiên nổi váng thối hỏng, cặn vôi nung cháy đen ngòm thế kia thì lấy đâu ra đường trong như ngọc thạch? Cần chín ngày chín đêm ủ lu kết tinh, mà nguyên liệu đã hỏng từ trong trứng nước, thử hỏi làm sao kịp hạn?

Nói đoạn, Hào quay ngoắt sang phía bàn thờ tổ tiên và thềm đá nhà rường, giọng điệu chuyển sang cay độc, lạnh lùng — Họ Chu các người đã làm hỏng giao kết! Đã không giữ được chữ Tín, lại còn món nợ cờ bạc năm trăm đồng bạc Đông Dương của thằng cháu chi thứ Chu Thúc Khiêm đến kỳ thanh toán! Hôm nay có mặt Lý trưởng làm chứng, tôi cho họ Chu đúng ba ngày! Trong ba ngày, nếu không giao nộp đủ tiền phạt vỡ giao kèo và trả hết năm trăm đồng bạc hoa xòe, thì phải ký văn tự gán đứt ba sào đất hương hỏa ngoài bến sông cho thương quán Vạn Hưng trừ nợ! Bằng không, bản quán lập tức đệ đơn lên quan phủ thưa tội lừa gạt, tống giam toàn bộ những kẻ đứng lò vào ngục tối!

Lời đe dọa như sét đánh ngang tai giáng xuống sân lò. Tiếng xôn xao kinh hoàng bùng lên dữ dội. Ông Chu Thúc Bản cùng mấy bô lão chi thứ run rẩy mặt mày xám ngoét. Ba sào đất bến sông là huyết mạch của cả dòng họ, là nơi tổ tiên khai hoang lập nghiệp mấy mươi năm, nay bỗng chốc đứng trước bờ vực mất trắng.

Chu Thúc Khiêm như chực sẵn cơ hội này, lập tức quỳ sụp xuống nền đất bụi bặm. Y chắp hai bàn tay run rẩy vái lạy lia lịa về phía thềm nhà, miệng méo xệch gào khóc thảm thiết — Nội ơi! Chú Bản ơi! Họa lớn ngập đầu họ Chu rồi! Mẻ mật đã thối, quan phủ mà gông cổ thì nhà ta tuyệt tự mất thôi! Cháu lạy Nội, xin Nội mở lượng từ bi, ký giấy gán ba sào đất bến sông cho Lại quán để cứu lấy mạng sống của cháu và danh dự họ tộc! Thằng Triết nó non dại làm hỏng lò, tội vỡ giao kèo này không gánh nổi đâu Nội ơi!

— Chú Ba! — Tiếng hét đanh thép của Chu Vĩnh Triết vang lên xé toang bầu không khí hoảng loạn.

Chàng chắt đích tôn đứng sừng sững bên cạnh vạc đồng, hai bàn tay nổi gân ghì chặt lấy cán chiếc muôi đồng gia truyền. Đôi mắt chàng đỏ hoe vì cay khói và uất ức, cả lồng ngực phập phồng dữ dội dưới lớp áo vải nâu. Triết bước xấn lên một bước, chỉ thẳng muôi đồng về phía Lại Bá Hào — Ba sào đất bến sông là mồ hôi nước mắt của bốn đời tổ tiên khai phá, là đất hương hỏa muôn đời không được chuyển nhượng! Cháu thà chết rục trong ngục chứ quyết không bao giờ để kẻ gian cướp mất đất tổ! Mẻ mật này cháu chưa nhận thua, giao kèo chưa hết hạn, các người lấy quyền gì mà đòi xiết đất?

— Mày còn cãi à thằng ranh con? — Lại Bá Hào trợn trừng mắt ti hí, vung tẩu thuốc toan bước lên thị uy.

Giữa lúc dầu sôi lửa bỏng, một âm thanh trầm đục bỗng vang lên từ thềm đá xanh.“CỐC!”

Tiếng gậy dằn mạnh xuống nền gạch tàu khô khốc nhưng dứt khoát như tiếng lệnh đồng xé toạc không gian. Cụ Chu Hoài Cảnh từ từ chống gậy đứng dậy khỏi chõng tre. Lưng cụ còng xuống theo sức nặng của hơn một thế kỷ phong trần, mái tóc bạc phơ bay nhè nhẹ trong làn gió sông Trà, nhưng thần sắc trên gương mặt già nua lại tĩnh lặng như mặt giếng làng lúc không gợn sóng.

Cả sân lò bỗng chốc im phăng phắc. Tiếng gào khóc của Khiêm nghẹn bặt nơi cuống họng, đám tùy tùng thương quán lùi lại một bước, còn Lý trưởng Phan Đăng Khôi vội vàng chắp tay nghiêng mình cúi đầu — Dạ thưa Cụ Cố...

Cụ Cảnh không nhìn Lại Bá Hào, đôi mắt mờ đục của cụ hướng thẳng về phía viên Lý trưởng làng An Hội. Giọng cụ cất lên, trầm ấm, từ tốn nhưng đanh thép lạ thường — Ông Lý! Bản văn tự giao kèo gốc hiện đang khóa trong rương gỗ mít nơi từ đường họ Chu, có chữ ký của ông và dấu triện của làng. Ta hỏi ông, thời hạn giao hai trăm tạ đường phèn tại thương cảng Thu Xà là bao nhiêu ngày?

Lý trưởng Phan Đăng Khôi khẽ giật mình, nuốt nước bọt đáp rành rọt — Dạ thưa Cụ Tiên chỉ, văn tự ghi rõ tròn hai mươi ngày ạ.

— Phải! Tròn hai mươi ngày! — Cụ Cảnh khẽ gật đầu, chiếc gậy tre ngà trong tay chỉ thẳng vào khoảng trời xuân trong vắt trên mái ngói âm dương. — Từ ngày nhận tráp bạc đặt cọc đến nay mới trôi qua năm ngày. Thời hạn giao đường cho thương quán Vạn Hưng vẫn còn tròn mười lăm ngày nữa! Nước đường trong vạc mới chỉ là mật thô, tơ đường chưa cạn hạn, lu sành chưa vào buồng ủ, ai cho phép người ngoài tự ý phán xét là mẻ đường đã hỏng?

Cụ Cảnh chuyển ánh nhìn sang Lại Bá Hào. Ánh mắt già nua như một tấm gương soi thấu tận đáy tim đen của kẻ đối diện — Ông Lại! Làng An Hội này có hương ước nghiêm cẩn, cõi Nam này có phép vua soi tỏ. Văn tự giao kết ghi rõ hai mươi ngày giao đủ đường tại bến Thu Xà, không có dòng nào, không có chữ nào cho phép ông dẫn người xộc vào sân lò Cảnh Ký đòi xiết đất hương hỏa sau ba ngày! Món nợ cờ bạc riêng tư của ai thì người đó chịu trước pháp luật làng xã, họ Chu ta chưa hề trễ hạn một khắc, chưa làm sai một ly trong giao ước thương mại! Ông lấy cớ gì mà đến đây làm càn?

Từng câu từng chữ của cụ Cố như búa tạ giáng xuống, bẻ gãy hoàn toàn luận điệu ngang ngược của gã thương nhân giảo hoạt. Lại Bá Hào tái mặt, chiếc tẩu thuốc trên tay run run làm tàn thuốc rơi lả tả xuống vạt áo gấm. Trước mặt bậc đại thọ uy danh lừng lẫy, lại có Lý trưởng đứng đó giữ phép làng, y biết mình không thể dùng vũ lực hay thói cường hào để ép uổng.

Cụ Cảnh nâng chiếc gậy tre ngà, dứt khoát chỉ thẳng ra phía cổng ngõ rào tre — Sân lò Cảnh Ký đang lúc nổi lửa đại sự, không tiếp khách sinh sự. Mời ông Lại và người của thương quán quay về thuyền nan! Đúng mười lăm ngày nữa, mời ông ra bến cảng Thu Xà nhận đủ hai trăm tạ đường phèn trong suốt như ngọc thạch. Bằng như thiếu một cân, trễ một khắc, khi ấy hãy mang trát quan đến đây nói chuyện!

Lại Bá Hào nghiến răng ken két, gương mặt béo phệ tím tái vì bẽ bàng. Thấy chẳng thể dùng thói cường hào áp đảo, y hậm hực vung tay áo gấm, gằn giọng buông lời đe dọa trước khi quay lưng — Được lắm! Cụ Cố Chu nhớ lấy lời hôm nay! Mười lăm ngày nữa tại bến Thu Xà, nếu không có đủ hai trăm tạ ngọc thạch, đừng trách Vạn Hưng quán này san phẳng ba sào đất bến sông! Đi!

Toán người hung hãn lục tục kéo nhau tháo lui ra mé sông Trà Khúc. Tiếng chân huỳnh huỵch xa dần, trả lại sự tĩnh lặng nặng nề cho sân lò đang vương đầy tàn tro khét lẹt.

Cụ Cảnh từ từ hạ gậy, khẽ xoay người lại. Đôi mắt phủ màng sương mờ đục của cụ không nhìn vào vạc mật hỏng, cũng không nhìn đứa chắt đích tôn đang nghẹn ngào xúc động, mà nhìn xoáy thẳng vào Chu Thúc Khiêm đang quỳ nép bên mé lu sành. Bắt gặp ánh nhìn thấu tận tâm can ấy, Khiêm run bần bật như cầy sấy, vội vàng cụp mắt lấm lét lùi sâu vào bóng tối chái tây để trốn tránh.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.