Chương 10: Lời Thề Trước Bài Vị
Bóng dáng chú Ba Khiêm vừa thụt lùi lủi mất vào khoảng tối ẩm mốc dưới chái tây, tiếng guốc mộc và bước chân rầm rập của toán người thương quán Vạn Hưng cũng vừa tắt hẳn ngoài rặng tre ven sông Trà Khúc. Nhưng khoảng không gian nơi sân lò Cảnh Ký không vì thế mà lắng dịu.
Chu Vĩnh Triết vẫn đứng chết lặng bên thềm gạch, hai bàn tay ghì chặt lấy thân chiếc muôi đồng gia truyền đến mức các khớp ngón nhức buốt. Mùi khói nồng cay xè quyện chặt với vị chua khét của váng mật hỏng bám riết lấy vòm họng chàng, đắng ngắt và ngột ngạt. Chàng nhìn bóng lưng còng của cụ Cố Chu Hoài Cảnh chậm rãi dời từng bước lên bậc đá xanh để tiến vào gian giữa nhà rường. Phía sau, bà cô Chu Thị Lành khẽ khàng cài lại then chiếc cổng rào tre, ngăn những ánh mắt hiếu kỳ của xóm giềng đang xầm xì ngoài ngõ.
Bước chân nặng trĩu dẫn Triết bước qua ngưỡng cửa gỗ mít. Bên trong ngôi nhà rường ba gian, không khí ngột ngạt, quánh đặc như nồi mật cô đặc trước cơn dông tố. Khói trầm hương trên bàn thờ tổ tiên bảng lảng cuốn quanh những bức hoành phi, câu đối sơn son thếp vàng đã phai màu theo năm tháng. Toàn thể tộc nhân họ Chu đã tề tựu đông đủ từ lúc nào. Các bậc bô lão, chú bác trong họ ngồi chật hai dãy phản gỗ, gương mặt ai nấy đều trĩu nặng âu lo cùng những nét cau mày gay gắt.
Cụ Cảnh ngồi trang nghiêm trên chiếc sập gụ cổ kính đặt chính giữa gian thờ. Chiếc gậy tre già bóng loáng dựng nghiêng bên mé sập. Cụ khép hờ đôi mắt mờ đục, hai bàn tay khô ráp đặt hờ trên đầu gối, trầm mặc như một pho tượng cổ đứng ngoài mọi biến động trần ai.
Phía cánh hữu, Chu Thúc Khiêm vừa bước vào sau cùng, lấm lét kéo vạt áo the thâm lau mồ hôi rịn đầy trên trán. Ngồi cạnh Khiêm là ông Chu Thúc Bản, một bậc cao niên có tiếng nói lớn của chi thứ. Chưa đợi tuần hương tàn một phần ba, ông Thúc Bản đã dằn mạnh chén nước chè tươi xuống mặt phản, cất giọng chát chúa phá tan sự tĩnh lặng — Thưa Cụ Cố! Thưa cả họ! Chuyện ngày hôm nay không thể nhắm mắt làm ngơ được nữa! Hai vạc mật đầu mùa nổi váng đen kịt, cặn vôi đóng tảng bốc mùi khét lẹt cả góc trời làng An Hội, mặt mũi nào để dòng họ Chu này ăn nói với dân làng và bạn hàng ghe bầu? Thằng Triết mới ngoài hai mươi tuổi đầu, học nghề chưa ráo mồ hôi trán. Cụ trao trọn bốn vạc đồng cho nó nắm là đẩy cả cơ nghiệp tổ tông vào chỗ tiêu tán!
Lời nói của ông Bản như châm mồi lửa vào đống rơm khô. Chu Thúc Khiêm thấy có người mở lối, lập tức xấn bước ra giữa gian nhà, đưa cánh tay run rẩy chỉ thẳng vào mặt Triết. Giọng y the thé vang lên chói gắt — Chú Bản nói chí phải! Thưa Nội, con cháu chi thứ bao đời nay thức khuya dậy sớm, dầm mưa dãi nắng trên nương mía bãi bồi, từng giọt mật chắt chiu đều là mồ hôi nước mắt! Nay vì sự non nớt, khinh suất của thằng Triết mà hai trăm tạ đường phèn có nguy cơ thành bùn đất bỏ đi. Lại Bá Hào đã dằn mặt, trát quan kề cổ, chỉ mười lăm ngày nữa là ba sào đất bến sông rơi vào tay ngoại bang! Chi bằng ngay hôm nay, họ tộc họp lại truất quyền giữ vạc của nhà trưởng, thu lại chùm chìa khóa kho trữ, rồi chia ba sào đất hương hỏa ra cho các chi tự lo liệu đường lui, giữ lấy bát cơm manh áo!
Tiếng xầm xì bàn tán của các bô lão chi thứ lập tức rộ lên như ong vỡ tổ. Có người thở dài ngao ngán, có người gật gù tán đồng, từng ánh mắt nghi kỵ, trách móc dồn dập đổ dồn về phía chàng trai trẻ.
Từng lời lẽ cay độc như những mũi gai nhọn đâm thẳng vào lồng ngực Triết. Đứng trơ trọi giữa gian từ đường, chàng nghe rõ từng nhịp đập thình thịch nơi lồng ngực đang phập phồng nghẹn uất.
Triết ngước nhìn lên bàn thờ tổ tiên nghi ngút khói sương. Đôi mắt chàng dừng lại nơi hai tấm bài vị bằng gỗ thị sơn son đặt cạnh nhau: bài vị của người ông nội và người cha kính yêu. Cả hai người đều sớm qua đời vì bạo bệnh khi tuổi đời còn xanh, để lại gánh nặng gầy dựng nhà trưởng trĩu nặng trên vai một người chắt đơn độc cùng cụ Cố đại thọ. Chàng nhớ như in những đêm mùa đông giá rét, cha chàng từng nắm lấy bàn tay non nớt của chàng bên bếp lò đỏ rực mà căn dặn: “Đất bến sông là mồ hôi xương máu của tổ tiên khai hoang lập nghiệp, là huyết mạch nuôi sống lò Cảnh Ký. Con dù có chịu đói chịu khổ, cũng tuyệt đối không được để mất một tấc đất hương hỏa vào tay kẻ ngoài!”
Thế mà giờ đây, ngay trước bài vị thiêng liêng của tiền nhân, cảnh cốt nhục tương tàn, tranh giành xâu xé lại đang bùng lên dữ dội trước sự chứng kiến của cụ Cố một trăm linh hai tuổi. Nỗi đau đớn xót xa cuộn trào nơi cuống họng làm sống mũi Triết cay sè. Nhưng nhìn vẻ mặt toan tính của chú Ba Khiêm cùng sự dồn ép của chi thứ, ngọn lửa cương trực trong lòng chàng chắt đích tôn bỗng bùng cháy dữ dội. Chàng hiểu rất rõ, nếu hôm nay chàng lùi bước, ba sào đất bến sông sẽ bị xé nát, chữ Tín trăm năm của lò Cảnh Ký sẽ vĩnh viễn vùi chôn dưới lớp tro tàn.
Triết hít một hơi thật sâu, dứt khoát bước lên ba bước, tà áo vải nâu phần phật theo từng chuyển động dứt khoát.
“BỊCH!”
Triết quỳ sụp xuống tấm chiếu hoa trải trước hương án tổ tiên. Tiếng va chạm khô khốc khiến toàn bộ gian nhà rường bỗng chốc im bặt. Mọi ánh nhìn đều sững sờ dán chặt vào bóng dáng thẳng tắp của chàng trai trẻ.Chàng ngẩng cao đầu, hai mắt rực sáng nhìn thẳng vào bài vị tổ tông, rồi quay sang nhìn thẳng vào mắt chú Ba Khiêm và ông Thúc Bản, giọng chàng dõng dạc, sang sảng vang lên — Thưa Cụ Cố! Thưa chú Ba, chú Bản và toàn thể tộc nhân! Cháu là Chu Vĩnh Triết, chắt đích tôn đời thứ tư gánh vác nhà trưởng họ Chu. Cháu thừa nhận mẻ mật sớm nay gặp biến cố lớn, hai vạc đồng nổi váng khét lẹt là do sự sơ suất của cháu khi chưa kiểm tra thấu đáo từng lu mật đưa vào kho! Nhưng xin tổ tiên anh linh và toàn thể dòng họ chứng giám, tấc lòng cháu trước sau như một, chưa từng có mảy may biếng nhác hay manh tâm làm tổn hại đến sản nghiệp ông cha!
Nói đoạn, Triết đưa tay với lấy bản văn tự giao kèo gốc bằng giấy bản dày dặn đang được bà Lành đặt trang trọng trên chiếc mâm đồng cạnh mé hương án. Trước sự kinh ngạc của mọi người, Triết đưa ngón tay trỏ bàn tay phải lên miệng, nghiến răng cắn mạnh một nhát.
Vị tanh nồng của máu tươi lập tức lan tỏa nơi đầu lưỡi. Chàng không hề chớp mắt, dằn mạnh đầu ngón tay rớm máu xuống góc dưới của tờ văn tự giao kết, để lại một dấu điểm chỉ đỏ thắm, rành rọt.
— Hôm nay, trước bài vị của ông nội và cha cháu, trước mặt Cụ Cố cùng toàn thể gia tộc, cháu xin thề danh dự! — Giọng Triết đanh thép như chém đá. — Trong vòng mười lăm ngày tới, nếu cháu không làm ra đủ hai trăm tạ đường phèn trong suốt như ngọc thạch giao cho bạn hàng tại thương cảng Thu Xà, nếu để mất dù chỉ một tấc đất trong ba sào đất hương hỏa bến sông, cháu xin tự tay xóa tên mình khỏi gia phả họ Chu, chịu mọi hình phạt gia pháp trục xuất khỏi làng An Hội, đời đời kiếp kiếp không dám ngẩng mặt nhìn lại tổ tiên!
Lời thề nặng tựa ngàn cân giáng xuống làm rung chuyển cả gian từ đường. Chu Thúc Khiêm lảo đảo lùi lại nửa bước, sắc mặt tái mét, bàn tay buông thõng run rẩy không ngừng. Ông Thúc Bản há hốc mồm, lời lẽ hạch sách chực thốt ra bỗng nghẹn ứ nơi cổ họng. Không một ai trong chi thứ dám ngờ tới một chàng trai hai mươi mốt tuổi lại dám đem cả tính mạng, danh dự và vị trí chắt đích tôn ra đặt cược dứt khoát đến nhường ấy.
Bà Chu Thị Lành từ chái sau tất tả bước tới, đôi mắt đã đỏ hoe giàn giụa nước mắt. Bà run run quỳ xuống cạnh Triết, vội vã kéo vạt khăn rằn mộc mạc băng lấy đầu ngón tay đang rỉ máu của chắt, giọng nghẹn ngào — Triết ơi... Sao con lại dại dột thề độc như vậy hả con... Đời người còn dài, việc lò còn có Cố, có bà con cô bác gánh vác mà con...
Triết khẽ nắm lấy bàn tay chai sần ấm áp của bà cô, ánh mắt chàng kiên định không hề dao động. Chàng ngước nhìn lên sập gụ. Cụ Chu Hoài Cảnh vẫn ngồi bất động. Nhưng Triết nhận thấy, dưới hàng lông mày bạc trắng như mây trời, đôi mắt phủ màng sương mờ đục của cụ Cố đang nhìn xoáy vào chàng. Trong đáy mắt già nua ấy không hề có sự hoảng loạn hay quở trách, mà lóe lên một tia sáng thâm trầm, sắc bén và quyết đoán vô cùng. Sự im lặng của cụ Cố giữa cơn sóng gió tựa như ngọn núi vững chãi ngầm chở che cho lời thề son sắt của đứa chắt đích tôn.
Triết hít một hơi dài, chống hai tay xuống chiếu hoa toan đứng dậy.
Chàng vừa dứt lời thề và thu chân lại, từ ngoài sân lò vắng lặng bỗng truyền vào một âm thanh khô khốc “TÁCH... LÉP BÉP!”
Tiếng nổ lách tách giòn tan nhưng ghê rợn vọng vào từ đáy hai chiếc vạc đồng đã tắt lửa.
Triết giật mình quay phắt đầu nhìn ra cửa lớn. Dưới làn gió sớm thổi từ triền sông Trà, mớ cặn vôi tạp chất hòa cùng mật non dưới đáy vạc sau khi hạ nhiệt đã nguội ngắt, co rút và nứt toác, đóng cứng lại thành một lớp màng đen ngòm, xù xì và đặc quánh như lớp vảy sắt han gỉ, thách thức sự tồn vong của cả lò đường Cảnh Ký.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
