Chương 8: Sóng Gió Chi Thứ

Vừa buông tiếng cười gằn mỉa mai sau lưng Triết, Chu Thúc Khiêm liền bước xấn ra khỏi bóng râm chái tây, dằn mạnh gót guốc mộc xuống thềm gạch lò. Nhìn lớp váng bọt xám ngoét cuộn tròn nổi lềnh bềnh như da cóc chết, cùng thứ mùi chua nồng the khét xộc thẳng vào cánh mũi, một cảm giác vừa nhẹ nhõm vừa rợn ngợp chạy dọc sống lưng y. Canh bạc nửa đêm trong mưa rào đã có kết quả. Mảnh giấy điều đỏ nợ năm trăm đồng bạc hoa xòe giấu kỹ nơi ngực áo the thâm như bớt đi đôi phần sức nóng thiêu đốt. Nhưng nhìn vạc đồng sùng sục những mảng bọt nhơ nhớp, hai bàn tay Khiêm vẫn không kìm được một cơn co giật nhẹ. Y biết, muốn sống sót thoát khỏi nanh vuốt sới bạc Thu Xà, y phải biến mẻ đường hư hoại này thành đòn chí mạng quật ngã nhà trưởng ngay trong buổi sớm nay.

Y hít một hơi dài đầy mùi khói khét, rồi trợn trừng mắt, chĩa thẳng ngón tay gầy guộc run rẩy vào mặt Chu Vĩnh Triết, cất giọng the thé la lớn — Bà con lối xóm, thợ bạn trong xưởng trông mắt mà xem! Hai trăm tạ đường phèn hảo hạng giao cho thương quán Thu Xà, cơ nghiệp tổ tông mấy đời gầy dựng bên bến sông Trà, nay trao trọn vào tay một thằng nhóc miệng còn hôi sữa thì ra nông nỗi này đây!

Tiếng la lối như sấm động giữa chái bếp ngột ngạt lập tức thu hút mọi ánh nhìn. Đám thợ phụ đang chết lặng bên bờ hiên xưởng đường đồng loạt quay đầu lại. Ngoài sân phơi rơm, mấy người thợ cạo mía cũng buông dao, dáo dác nhìn vào.

Thấy sự chú ý đã dồn cả về phía mình, Khiêm thừa thắng xông lên. Y nhảy tót lên bậc thềm đá xanh dẫn vào gian lò, vỗ mạnh mu bàn tay vào nhau chan chát — Mới sáng sớm nổi lửa vạc đầu mà khói đen bốc ngùn ngụt như đốt đống rác ươn! Mật mía thơm ngọt của đất Quảng Ngãi qua tay chắt đích tôn nhà trưởng bỗng biến thành vũng bùn thối, đến cả lòng trắng trứng gà thả vô cũng bị dìm chết ngộp! Mày học nghề kiểu chi rứa hả Triết? Mày cậy thế con cháu dòng trưởng rồi coi rẻ mồ hôi nước mắt của cả họ Chu này sao?

Nghe tiếng huyên náo rầm rĩ, từ phía dãy nhà ngang của chi thứ, mấy ông bác, chú thím cùng dăm ba bô lão họ hàng đã lục tục kéo sang. Dẫn đầu là ông Chu Thúc Bản, bậc cao niên trong chi thứ, tay chống gậy tre ngắn, mặt mày đỏ gay vì hấp tấp. Tiếng xì xào phẫn nộ từ đám người chi thứ bốc lên hừng hực — Chuyện chi rầm rĩ rứa chú Ba?

— Có thật vạc mật hỏng rồi không? Trời phật ơi, hai trăm tạ đường giao kèo mà đổ sông đổ biển thì lấy chi đền cho người ta?

Khiêm quay phắt lại, nắm lấy vạt áo ông Bản, mặt méo mó làm ra vẻ đau xót tột cùng — Các chú, các bác ngó tận mắt coi! Lửa củi mít bén đều thế kia mà mật sủi bọt phân trâu, khét lẹt buốt cả óc! Cháu đã thưa từ hôm ký văn tự rồi, thằng Triết mới hai mươi mốt tuổi đầu, tay quấy muôi còn run, mắt nhìn lửa chưa thấu, biết cái chi mà giao trọn quyền giữ vạc đại sự? Nhà trưởng cứ cậy quyền cậy thế, khư khư ôm lấy chiếc muôi đồng, gạt phắt người lớn tuổi sang bên! Giờ đây mẻ đường đầu mùa hóa thành phế phẩm, phen này thương lái Thu Xà phạt gấp ba tiền cọc, cả dòng họ Chu chỉ có nước dắt díu nhau đi ăn mày!

Đám đông chi thứ nghe vậy thì nhốn nháo hẳn lên. Những tiếng cằn nhằn, oán thán bắt đầu dội vào chái bếp lò như sóng vỗ bờ — Chú Ba nói phải đó! Con nít ranh mà đòi gánh hai trăm tạ đường!

— Hư hỏng thế này thì mất trắng ba sào đất hương hỏa bến sông chứ chẳng chơi!

Bà Chu Thị Lành từ bên cạnh vạc đồng vội vã bước tới, đặt chiếc liễn sành rỗng xuống mép chõng tre. Gương mặt đôn hậu của bà tái nhợt vì lo lắng, nhưng giọng nói vẫn cố giữ vẻ trầm tĩnh của bậc cô mẫu — Khiêm! Cháu bớt lời lại đi. Thằng Triết từ canh tư tới chừ không rời bếp một bước, lửa củi vôi rơm đều làm đúng phép cẩn thận của ông bà truyền lại. Nồi mật có bề chi thì từ từ tìm căn nguyên mà cứu vãn. Người trong nhà một họ, chưa chi đã vội la hoán lên cho xóm làng chê cười sao cháu?

Nghe bà Lành lên tiếng bênh vực chắt, ngực Khiêm nghẹn lại một cơn tức tối dồn ứ bao năm. Mặc cảm đứa con chi thứ luôn phải cúi đầu trước nhà trưởng bốc lên ngùn ngụt, lấn át cả nỗi chột dạ trong lòng. Y trừng mắt nhìn bà Lành, vung mạnh ống tay áo the thâm:— Cô Hai nói nghe nhẹ tênh như không rứa! Đóng cửa bảo nhau ư? Mùi khét nồng nặc bay khắp bến sông rồi, che giấu cho ai được nữa? Chi thứ tụi cháu quanh năm dãi nắng dầm sương ngoài nương bãi, chân lấm tay bùn đổ mồ hôi cuốc từng luống mía de cũng chỉ vì bát cơm chung của dòng tộc. Giờ đây nhà trưởng làm ăn tắc trách, làm đổ nợ đổ nần, há lẽ chi thứ tụi cháu phải cắn răng đưa đầu chịu vạ lây hay sao? Ba sào đất bến sông là đất tổ chung của họ Chu, đâu phải của riêng chi trưởng mà đem ra đánh bạc với bạn hàng Thu Xà!

Chu Vĩnh Triết nãy giờ đứng chết lặng bên miệng vạc, hai cánh tay rắn chắc siết chặt cán muôi đồng đến mức gân xanh nổi cuồn cuộn. Bị dồn ép trước mặt gia tộc, thằng cháu hai mươi mốt tuổi không kìm được uất ức, nghiến răng bước xấn lên một bước. Đôi mắt chàng đỏ hoe vì khói khét và uất ức — Chú Ba! Cháu canh lửa củi mít đúng độ liu riu, nước vôi lắng trong veo không gợn một hạt cặn, lòng trắng trứng bà cô tự tay lựa từng quả tươi rói! Nước đường biến sắc đen ngòm, đóng cặn nung cháy đáy vạc thế này là do mật mía bị chua gắt bất thường từ trước! Chú Ba thử ngửi lại mớ mật mía từ thượng nguồn dỡ xuống kho chái tây đêm qua xem, mùi nồng the hệt như...

Lời Triết chưa dứt, tim Chu Thúc Khiêm bỗng giật thót một cái như bị ai bóp nghẹt. Vệt mật vương trên ống quần đêm mưa và bao bột vôi tạp chất bất thần lóe lên trong trí nhớ khiến gáy y lạnh toát. Nỗi sợ hãi âm mưu bại lộ chực bùng lên, nhưng thói xảo quyệt của kẻ đường cùng đã lập tức giục giã y phải ra tay bịt miệng đứa cháu.

Khiêm chồm tới, cắt ngang lời Triết bằng một tiếng thét xé tai — Mày câm cái mồm lại! Mày còn dám già mồm đổ vấy cho nguyên liệu hở? Mật mía thượng nguồn tao đích thân đội mưa đón thuyền ngoài bến, từng lu sành dán kín lá chuối khô, phu bốc vác hàng chục người chứng kiến! Mấy chục năm nay lò Cảnh Ký vẫn nấu thứ mật đó thành đường phèn ngọc thạch, sao đến tay mày lại hóa thành tro than? Rõ ràng mày non tay vụng nghề, quấy đũa không đều tay làm mật bén đáy, giờ lại giở trò hèn hạ vu oan giá họa cho người làm chú này!

Khiêm sấn sổ bước tới gần miệng vạc, vừa chỉ trích vừa đưa tay toan giằng lấy cán chiếc muôi đồng gia truyền trên tay Triết — Thôi ngay đi! Đừng để nó phá nát cái lò của tổ tiên thêm một khắc nào nữa! Buông chiếc muôi đồng xuống! Thằng Triết, mày lập tức giao lại chùm chìa khóa kho trữ cho chi thứ trông coi! Để bậc chú bác đứng ra cứu lấy mẻ mật này, bằng không cả họ Chu phen này chết không có đất chôn!

— Chú Ba! Cháu không buông! — Triết gạt phắt bàn tay gầy guộc của Khiêm ra, hai hàm răng nghiến chặt ken két, cả lồng ngực phập phồng dữ dội.

Đám người chi thứ thấy Khiêm làm dữ thì cũng ùa theo, tiếng hò hét đòi tước quyền giữ vạc của chắt đích tôn vang lên hỗn loạn. Khói đen từ hai vạc đồng vẫn cuồn cuộn bốc lên, quyện với tiếng cãi vã chát chúa làm cho không khí dưới mái ngói âm dương của lò Cảnh Ký trở nên ngột ngạt đến nghẹt thở.

Mùi khét lẹt nồng nặc cùng những âm thanh la lối om sòm từ xưởng đường họ Chu nhanh chóng lan ra ngoài triền đê. Ngoài cổng ngõ rào tre hướng ra sông Trà Khúc, dân làng An Hội cùng bạn hàng ghe bầu bắt đầu kéo nhau tới đứng túm tụm, tiếng bàn tán vọng vào sân lò nhanh như dầu loang trên mặt nước — Nghe nói lò Cảnh Ký nấu hỏng mẻ đường phèn hai trăm tạ rồi!

— Thật rứa sao? Lò cụ Cố xưa nay nức tiếng trong suốt như ngọc, răng nay lại bốc mùi khét lẹt thế kia?

— Chết thật, nghe đâu chi thứ đang làm ầm lên đòi tước quyền thằng cháu đích tôn... Quả này họ Chu vỡ nợ to rồi!

Nhìn cảnh tượng nhốn nháo ngoài cổng và sự giận dữ của đám đông chi thứ đang vây chặt lấy thằng cháu trẻ tuổi, nơi khóe môi Chu Thúc Khiêm thoáng gợn lên một tia đắc ý lạnh lùng. Y thầm tính, chỉ cần ép Triết buông chìa khóa, nắm được kho trữ trong tay, y sẽ đường hoàng thay mặt họ Chu nói chuyện với Lại Bá Hào để giải quyết món nợ năm trăm đồng bạc hoa xòe.

Thế nhưng, giữa lúc tiếng hò hét đòi truất quyền giữ lò của Triết đang lên đến đỉnh điểm, từ phía bến sông Trà Khúc bỗng vang lên những tiếng gõ mạn thuyền rầm rập đinh tai nhức óc. Tiếng la hét của đám gia nhân rẽ nước xông lên bờ át cả tiếng gió bãi bồi.

Mọi người trong sân lò giật mình dạt sang hai bên. Qua khung cửa ngõ rào tre, Chu Thúc Khiêm nhìn thấy rõ mồn một bóng chiếc áo gấm Thượng Hải màu xanh sẫm thêu hoa cùng tẩu thuốc bịt bạc sáng lóa. Chưởng quầy thương quán Vạn Hưng — Lại Bá Hào — đang dẫn theo một toán tùy tùng mặt mày bặm trợn xộc thẳng vào cổng làng An Hội, rảo bước hùng hổ hướng về phía lò Cảnh Ký.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.