Chương 23: Muôi đồng Truyền đời
Gió nồm nam thổi rười rượi trên bãi bồi ven sông Trà Khúc, mang theo hơi nước mát và hương mật mía thân thuộc. Dưới bóng đa cổ thụ bến An Hội, cụ Chu Hoài Cảnh đứng tựa vào chiếc gậy tre ngà bóng loáng. Đôi mắt phủ màng sương mờ đục của tuổi một trăm linh hai nheo lại, đón vạt ráng chiều dát vàng mặt nước. Trong tiếng pháo lệnh râm ran, chiếc mũi gầy guộc của cụ khẽ phập phồng đón luồng hương ngọt thanh thuần khiết từ mạn thuyền bay tới. Đó là hương vị mẻ đường phèn ngọc thạch hoàn mỹ, không vương nửa hạt bụi chua nồng.
Mũi thuyền gỗ kiền kiền áp sát bờ đá. Chu Vĩnh Triết ôm tráp gỗ mít nhảy thoăn thoắt lên bờ cát, theo sau là Chu Thúc Khiêm với đôi bàn tay quấn vải sô trắng. Thấy bóng lưng còng của cụ Cố, cả hai vội sải bước tới, quỳ sụp xuống thềm bến.
— Thưa Cố! — Giọng Triết rộn rã, hai tay nâng cao tráp gỗ mít. — Hai trăm tạ đường phèn hảo hạng đã giao trọn vẹn tại cảng Thu Xà, không thiếu nửa cân, không trễ một khắc! Đây là giấy biên nhận có triện son của thương quán Vạn Hưng!
Chu Thúc Khiêm run run dập đầu: — Thưa Nội... Cháu đã thấy Triết đếm đủ năm trăm đồng bạc hoa xòe trả dứt nợ cờ bạc trước mặt bạn hàng. Tờ giấy nợ đã bị xé vụn tung xuống dòng Trà Khúc. Ba sào đất bến sông của tổ tông được giữ trọn vẹn rồi Nội ơi!
Cụ Cảnh mỉm cười, chòm râu bạc phơ rung rinh trong gió chiều. Bàn tay khô ráp của cụ khẽ đặt lên vai từng đứa, giọng trầm ấm: — Về được là tốt rồi. Đường đã thấu lòng người, đất tổ đã vẹn nguyên chữ Tín. Mau theo ta về từ đường tạ ơn tiên tổ!
Khói trầm thơm ngát tỏa khắp ngôi nhà rường ba gian hai chái. Dưới ánh nến sáp ong, gian từ đường họ Chu sáng rực như ngày hội. Con cháu bốn đời tề tựu đông đủ, từ các bậc cao niên chi thứ tóc hoa râm đến lũ trẻ nhỏ xúng xính áo mới, ai nấy đều nghiêm cẩn hướng về hương án sơn son thếp vàng.
Bà Chu Thị Lành cẩn trọng bưng mâm đồng tiến lên thềm đá. Trên mâm, phủ tấm lụa điều đỏ thắm là khối đường phèn lớn trong suốt như ngọc thạch, góc cạnh vuông vức lấp lánh phản chiếu ánh nến tựa khối lưu ly. Đó là khối đường kết tinh tinh túy nhất, gạn từ đáy lu sành đầu tiên của mẻ đường đại sự.
Cụ Cảnh vịn gậy, đón nén nhang trầm từ tay con gái, chắp tay vái lạy ba vái trước bài vị tổ tiên rồi c*m v** lư đồng mắt cua. Khói nhang bảng lảng quyện vào không gian tĩnh lặng, chỉ còn tiếng thở nghẹn ngào xúc động của cháu con. Cụ quay lại, đưa mắt nhìn khắp họ tộc rồi dừng lại nơi chàng chắt đích tôn: — Triết, lại gần đây với Cố.
Chu Vĩnh Triết kính cẩn bước lên thềm đá. Cụ Cảnh nắm bàn tay gân guốc của chàng trai trẻ, lần giở ngón trỏ bàn tay phải. Nơi đầu ngón tay từng bật máu điểm chỉ trong đêm gia tộc nghiêng ngả, nay đã kéo da non phẳng phiu, chỉ còn vết sẹo mờ màu hồng nhạt.
Cụ Cảnh cất giọng sang sảng: — Mười lăm ngày trước, trước án thờ này, chắt đích tôn Chu Vĩnh Triết từng cắn ngón tay điểm chỉ máu, thề nếu làm hỏng mẻ đường hay để mất ba sào đất tổ thì tự xóa tên khỏi gia phả họ Chu. Hôm nay, trước anh linh tiên tổ và toàn thể họ tộc, ta tuyên bố: Lời thề máu ấy chính thức được hóa giải! Vết sẹo này là dấu ấn của lòng can trường, là tấc lòng trung trinh bảo vệ chữ Tín của nếp nhà Cảnh Ký. Đời đời con cháu họ Chu phải lấy đó làm gương!
Nghe lời cụ Cố, ông Chu Thúc Bản cùng mấy bậc cao niên chi thứ hổ thẹn khôn cùng. Ông Bản dẫn đầu bà con chi thứ quỳ sụp xuống nền gạch tàu: — Thưa Cụ Cố! Thưa vong linh tổ tông! Chi thứ chúng con thiển cận, trước đây vì lòng tham và nỗi tỵ hiềm mà nghi kỵ nhà trưởng, toan ép chia đất bán bến. Nay thấy cháu Triết xả thân vì nghĩa lớn, chúng con cúi đầu tạ tội trước Cụ và cháu Triết. Từ nay về sau, chi thứ xin một lòng một dạ quy phục nhà trưởng, thề trọn đời đồng lòng giữ lửa lò đường, quyết không dám nửa lời chia rẽ!
Cụ Cảnh khẽ thở dài bao dung rồi giơ tay bảo mọi người đứng dậy. Oán hận một khi đã tan thì chỉ nên giữ lại nghĩa tình ruột thịt.— Lành, mang kỷ vật ra đây cho cha — cụ Cảnh khẽ bảo.
Bà Lành nâng chiếc hộp gỗ mít bọc nhung the điều tiến tới. Cụ Cảnh tự tay mở nắp. Dưới ánh nến, chiếc muôi đồng gia truyền của lò Cảnh Ký hiện ra, thân muôi nhẵn bóng ngả màu mắt cua, chiếc cán dài in hằn dấu tích bao năm đứng vạc. Đây là vật báu cụ Cảnh dùng từ ngày lập lò, truyền qua con trai trưởng và cháu nội, nay lại trở về trước hương án.
Cụ Cảnh nâng chiếc muôi đồng bằng cả hai tay, trang trọng trao cho Chu Vĩnh Triết: — Triết con! Chiếc muôi này từng khuấy hàng ngàn vạc mật, chứng kiến bao thăng trầm của họ Chu ven sông Trà. Nay giông bão đã tan, lòng người đã sáng, ta chính thức trao quyền giữ vạc đời thứ tư của lò Cảnh Ký cho con. Hồn cốt lò đường trăm năm đặt trọn vào đôi tay này!
Chu Vĩnh Triết run rẩy đón lấy chiếc muôi đồng gia truyền, quỳ rạp xuống: — Chắt xin ghi lòng tạc dạ lời Cố dạy, nguyện đem hết tâm sức giữ trọn ngọn lửa lò đường và danh dự tổ tiên!
Phía sau, Chu Thúc Khiêm nhìn chiếc muôi đồng trong tay đứa cháu họ, lòng không còn chút ghen ghét đố kỵ ngày nào. Y cúi đầu, hai tay chắp trước ngực, ánh mắt ngập tràn sự kính phục chân thành.
Nghi lễ hoàn tất, con cháu lui ra sân chuẩn bị củi nước. Bên thềm đá mát rượi của gian từ đường, cụ Cảnh ngồi xuống chiếc chõng tre quen thuộc, vẫy tay gọi Chu Thúc Khiêm lại gần. Nhìn người cháu nội chi thứ với đôi bàn tay còn quấn dải vải sô trắng, cụ ôn tồn cất tiếng: — Khiêm, con có biết vì sao đêm mưa dạo ấy, khi con lén rắc vôi sống và tuồn mật non vào kho, ta đã thức giấc mà không hề bước ra ngăn cản?
Thúc Khiêm giật thót mình, toàn thân run lên bần bật. Y ngước đôi mắt kinh ngạc nhìn người ông đại thọ, môi mấp máy: — Nội... Nội đã biết từ đêm đó sao?
— Mũi của một người thợ già trăm năm ăn ngủ bên vạc mật, sao có thể nhầm được mùi khét lẹt của vôi sống và vị chua nồng của mật non dầm mưa? — Cụ Cảnh mỉm cười hiền từ. — Đêm ấy, nếu ta bước ra hô hoán gia pháp, con sẽ bị đuổi khỏi làng, họ Chu sẽ tan nát vì oán hận huynh đệ, và món nợ sới bạc sẽ bức tử con nơi đất khách. Nấu đường cũng như luyện tâm vậy con. Khi vạc mật nổi bọt bẩn, người thợ vụng về sẽ vội vã đổ đi hoặc dùng gậy khuấy tung lên làm khét đáy. Người thợ già thì khác, phải biết nhẫn nại châm nước tro rơm nếp để ghìm vị chua, rưới lòng trắng trứng để gom tạp chất, đợi lúc tro lắng cặn trong mới gạn lấy giọt mật thuần khiết.
Cụ Cảnh đưa bàn tay gầy gò vỗ nhẹ lên mu bàn tay quấn vải sô của Khiêm: — Ta đợi, là để đợi ngọn lửa ăn năn trong lòng con bùng lên. Bỏng rát nơi đôi tay con suốt chín ngày chín đêm giữ than ấm chính là bát nước tro rơm đã gạn sạch những cặn bã lầm lạc trong tâm con. Con đã tự cứu lấy chính mình rồi đó.
Từng lời của cụ Cố như dòng nước mát tưới vào cõi lòng khô héo. Chu Thúc Khiêm không kìm được nữa, quỳ sụp xuống ôm lấy đầu gối ông nội mà òa khóc nức nở như một đứa trẻ. Những giọt nước mắt sám hối lăn dài trên gò má hốc hác, gột rửa đi mọi tủi hờn và tăm tối. Đứng bên cạnh, bà Lành và Triết cũng rơm rớm nước mắt. Cả họ tộc chứng kiến cảnh ấy đều lặng đi vì xúc động, thấu suốt tấm lòng bao dung tựa trời biển của bậc đại thọ một trăm linh hai tuổi.
Đêm đã về khuya. Ánh trăng xuân vằng vặc rọi xuống dòng Trà Khúc êm đềm, dát một dải bạc lấp lánh lên bãi mía bồi An Hội. Cụ Chu Hoài Cảnh mỉm cười thanh thản, tựa lưng vào chiếc cột gỗ mít bóng loáng của gian từ đường. Gió đêm thoang thoảng mang theo hương hoa cau ngào ngạt, hòa cùng tiếng con cháu ríu rít cười vui bên chái bếp, rộn ràng chuẩn bị ấm trà sớm và những viên đường phèn ngọc thạch cho ngày hội ngộ tứ đại đồng đường vào sớm mai.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
