Chương 21: Xuôi Dòng Trà Khúc
Hồi tù và từ bến sông Trà Khúc rúc lên từng chặp giòn giã, xé toang dải sương sớm còn vương vất trên rặng tre ngà. Chu Thúc Khiêm giật mình buông vai Triết, lồng ngực phập phồng theo từng nhịp thở dồn dập. Hương đường phèn thanh khiết hãy còn quấn quýt nơi cánh mũi, nhưng tiếng hò reo náo nức ngoài ngõ xóm đã kéo tâm trí y quay về thực tại: đoàn thuyền bầu từ thương cảng Thu Xà đã cập bến bồi làng An Hội.
— Mau ra bến đón bạn hàng, Triết ơi! — Khiêm giục, giọng khản đặc vì bao nỗi nghẹn ngào vừa trải qua.
Hai chú cháu vội vã rảo bước qua khoảng sân gạch rêu phong. Ngoài bến sông, cảnh tượng tấp nập chưa từng thấy hiện ra trước mắt Khiêm. Dưới bãi bồi phù sa, năm chiếc thuyền bầu thân gỗ kiền kiền vạm vỡ, căng buồm nâu sẫm, đang lần lượt ép mạn vào hàng cọc tre cắm sâu mé nước. Cánh phu chèo c** tr*n, da dẻ bóng loáng mồ hôi, vừa hò dô ghìm dây chão vừa vẫy nón chào dân làng.
Trên bờ đê, Lý trưởng Phan Đăng Khôi phe phẩy chiếc quạt trúc, đĩnh đạc chỉ huy tuần đinh — Dọn quang lối đi cho người gánh đường! Cắm thêm cọc tiêu mé tả ngạn, coi chừng vướng bãi cạn! Hôm nay họ Chu xuất hàng đại sự, chớ để xảy ra sơ suất va quẹt!
Thấy Khiêm và Triết bước tới, Lý trưởng Khôi khẽ gật đầu, cất giọng sang sảng — Chú Ba, cháu Triết! Thuyền buôn của hội quán Thu Xà tới đủ cả rồi đó. Cứ thong thả cân đong bốc dỡ, bản chức đích thân đứng đây chứng giám, không ai dám làm bậy nửa tấc!
Khiêm cúi đầu tạ ơn ông Lý, rồi nhìn về phía chái sau lò Cảnh Ký. Từ cửa buồng ủ, dòng người đang nối nhau gánh những sọt tre đan mắt cáo lót lá chuối khô tiến ra, bên trong đầy ắp những tảng ngọc đường vuông vức, óng ánh như thạch anh dưới nắng sớm.
Điều khiến sống mũi Khiêm cay xè là những bóng áo nâu quen thuộc nơi lối đi. Dẫn đầu đoàn khiêng vác là ông Chu Thúc Bản — người anh họ chi thứ mấy hôm trước còn cùng y đập bàn gay gắt đòi chia ba sào đất tổ. Lúc này, vạt áo the của ông Bản đã vén giắt ngang lưng, hai tay áo xắn cao quá khuỷu. Ông Bản cùng bà con chi thứ chẳng nề hà nặng nhọc, chủ động xốc vác từng sọt đường trĩu nặng từ tay thợ bạn.
— Cẩn thận cái tay, thằng Bảy! Đỡ nhẹ thôi, đường ngọc của họ Chu mình đấy, sứt mẻ góc cạnh là uổng công tổ tông! — Tiếng ông Bản giục giã, hào sảng mà cẩn trọng.
Bà con chi thứ trước đây lắm nỗi tỵ hiềm, nay đều nhễ nhại mồ hôi, miệng cười rạng rỡ, chuyền tay nhau đưa đường xuống khoang thuyền. Nhìn cảnh ruột thịt keo sơn, Khiêm ứa nước mắt. Y nhớ lại những đêm đen tối ôm món nợ cờ bạc năm trăm đồng bạc hoa xòe, nhớ những lời xúi giục độc địa của Lại Bá Hào mà thấy mình đớn hèn, nhơ nhuốc biết bao. Nếu không có cụ Cố bao dung và cháu Triết khẳng khái, có lẽ chính bàn tay y đã xé nát nếp nhà, đẩy dòng họ vào cảnh nồi da xáo thịt.
Khiêm toan bước tới ghé vai nâng một chiếc sọt tre thì bỗng có tiếng gọi dịu dàng sau lưng — Thằng Khiêm, lại đây cô bảo!
Khiêm ngoảnh lại, thấy bà Lành đang đứng nơi chái hiên nhà rường, tay bưng chiếc âu sành nhỏ và một dải vải sô trắng tinh. Y ngập ngừng bước tới, khép nép thưa — Dạ... cô Hai.
Bà Lành kéo Khiêm ngồi xuống chiếc chõng tre dưới giàn mướp hương, ái ngại nhìn đôi bàn tay y phồng rộp đỏ ửng vì bưng than nóng suốt mấy đêm gió chướng. Mở âu sành thơm nồng mùi dầu mù u quyện thảo mộc, bà ân cần thoa lớp dầu xanh biếc lên từng vết bỏng rát, rồi đắp nắm lá bỏng non đã giã nhuyễn. Vị the mát chạy dọc cánh tay, làm dịu hẳn cơn đau buốt.
— Đau lắm phải không con? — Giọng bà Lành nghẹn ngào xót xa. — Đôi bàn tay này đã cùng thằng Triết giữ ấm buồng ủ chín ngày chín đêm, cứu sống cả cơ nghiệp họ Chu. Giờ ngồi yên đây cho cô băng lại, việc nặng ngoài bến để bà con họ mạc lo liệu.
Khiêm cúi gằm mặt, hai bờ vai run lên bần bật. Từng giọt nước mắt nóng hổi rớt xuống mu bàn tay đang được bà cô chăm chút. Đôi bàn tay từng mê muội vì trò đỏ đen sới bạc, từng lén rắc vôi sống làm nhơ bẩn vạc đồng, nay nhờ ngọn than hồng giữ ấm buồng ủ mà được chuộc lại danh dự. Gia tộc không ruồng bỏ y, không đem gia pháp trừng trị, mà lại chở che bằng tình thương máu mủ.
— Con... con mang tội lớn với tổ tông, với cô Hai... — Khiêm nấc nghẹn, giọng lạc đi.
Bà Lành khẽ vỗ vai y, ôn tồn — Biết hối cải thì bùn nhơ cũng hóa đất lành con à. Cụ Cố dạy rồi, gạn đục khơi trong, cốt nhục một nhà thì trước sau gì cũng thương nhau. Thay áo mới đi, lát nữa còn cùng cháu nó theo thuyền ra bến lớn.Vừa lúc đó, Triết bước tới chái hiên. Chàng chắt trẻ trao cho Khiêm chiếc áo chàm màu xanh thẫm còn thơm mùi vải mới cùng một chiếc đòn gánh tre đực óng ả nước thời gian, mỉm cười — Chú Ba, áo chú vương đầy tàn tro củi mít rồi, chú mặc chiếc áo này cho tươm tất. Ngoài bến đã bốc được hơn trăm chín mươi sọt, chỉ còn sọt cuối cùng thôi.
Khiêm đón lấy áo, ánh mắt y bỗng chạm vào bàn tay phải của Triết. Nơi đầu ngón tay trỏ — chỗ Triết từng tự cắn rách để điểm chỉ máu thề giữ đất trước bài vị tổ tiên — nay đã kéo da non phẳng phiu, chỉ còn lại một vết sẹo mờ màu hồng nhạt. Vết sẹo ấy như minh chứng cho sự can trường và khí phách của đứa cháu họ mà trước đây Khiêm từng ôm lòng tỵ hiềm.
Mặc vội chiếc áo chàm thơm mùi nắng, Khiêm đứng dậy, nắm lấy một đầu đòn gánh — Để chú khiêng cùng mày!
Hai chú cháu cùng ghé vai nâng chiếc đòn gánh tre. Sọt đường thứ hai trăm trĩu nặng, kết tinh từ giọt mật thanh khiết nhất của lò Cảnh Ký, được hai chú cháu nhịp nhàng khiêng qua cổng lò. Từng bước chân giẫm chắc nịch trên bãi bồi, xóa tan mọi mặc cảm và khoảng cách giữa hai chi, chỉ còn sự hòa hợp của cốt nhục chung một dòng máu họ Chu.
Khi sọt đường cuối cùng được hạ an toàn xuống khoang chiếc thuyền bầu lớn nhất, mặt trời đã ngả bóng về tây, nhuộm vàng rực bãi mía de ven sông Trà Khúc. Giờ xuất hành đã điểm.
Dưới gốc đa cổ thụ bên bến nước, cụ Chu Hoài Cảnh chống chiếc gậy tre ngà đứng sừng sững giữa gió chiều lộng thổi. Chòm râu bạc phơ của cụ bay lất phất, đôi mắt mờ đục nhìn về phía hai đứa cháu chắt trên mũi thuyền. Cụ khẽ nâng bàn tay thô ráp đượm mùi nắng gió lên vẫy, cất giọng trầm ấm mà sang sảng — Triết! Khiêm! Hai trăm tạ đường phèn này là mồ hôi nước mắt của bốn đời họ Chu, là chữ Tín mà tổ tông gầy dựng trăm năm qua. Ra ngoài thương cảng sóng to gió lớn, các con phải nhớ: lòng người có ngay thẳng thì hạt đường mới thanh trong. Giữ trọn chữ Tín, không thẹn với lương tâm, ấy mới là người thợ chân chính!
— Chắt xin ghi lòng tạc dạ lời Cố dặn! — Triết đứng trên sạp thuyền, hai tay ôm chiếc tráp gỗ mít đựng bản văn tự giao kèo gốc, dõng dạc thưa.
Khiêm cũng chắp tay cúi rạp người về phía người ông nội đại thọ — Cháu xin vâng lời Nội! Cháu thề đem hết sức mình giữ trọn danh dự lò đường!
Tiếng tù và trên thuyền chủ rúc lên một hồi dài giục giã. Dây néo được tháo khỏi cọc bến. Những cánh buồm nâu sẫm từ từ giương cao đón ngọn gió xuôi lồng lộng. Đoàn thuyền năm chiếc rẽ đôi làn nước phù sa đỏ quạch, rời bến bồi An Hội, xuôi dòng Trà Khúc hướng về thương cảng Thu Xà trong buổi chiều ngày thứ mười chín.
Khiêm đứng bên mạn thuyền, nhìn bóng cụ Cố, bóng cô Hai và bà con họ mạc mờ dần sau rặng tre xanh ngắt, lòng trào dâng niềm xúc động khôn nguôi. Chiều tà trôi đi êm ả dưới mái chèo khua nước nhịp nhàng. Dòng sông Trà bao đời nuôi dưỡng những nương mía ngọt lành nay chở mẻ ngọc đường của họ Chu vượt trùng sóng nước.
Hoàng hôn buông xuống thật nhanh, rải một vạt đỏ ối lên mặt sông mênh mông. Phía trước, thương cảng Thu Xà hiện ra sầm uất với hàng trăm cột buồm san sát. Ánh đèn lồng từ các thương đ**m, hội quán ven sông thắp lên lung linh soi bóng nước. Tiếng phu khuân vác, tiếng bạn hàng ngã giá ồn ào vang động cả một khúc sông.
Bác lái thuyền khéo léo bẻ lái, cho chiếc thuyền bầu dẫn đầu từ từ áp vào bờ đá của bến cảng chính. Khiêm thở phào một hơi nhẹ nhõm, toan quay sang nhắc Triết chuẩn bị tráp văn tự thì ánh mắt y bỗng khựng lại.
Dưới ánh đèn lồng đỏ nơi góc cầu đá, một bóng người béo lùn, mặc áo gấm Thượng Hải cài khuy ngọc đang đứng chực sẵn tự bao giờ. Trên tay hắn là chiếc tẩu thuốc bịt bạc bốc khói nghi ngút. Quanh hắn là hơn chục tên tay chân mặt mày bặm trợn của sới bạc Thu Xà, tay lăm lăm gậy gộc và thước đo đồng.
Lại Bá Hào!
Gã gian thương hơi nhếch mép, để lộ nụ cười lạnh tanh ghê rợn. Đôi mắt ti hí của hắn lóe lên tia nhìn hung hiểm, chằm chằm xoáy vào những sọt đường trên khoang thuyền, toan giở trò bới lông tìm vết bắt bẻ vào giờ chót.
Trái tim Khiêm thót lại một nhịp đau nhói, hai bàn tay quấn vải sô bỗng run lên bần bật...
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
