Chương 17: Bát Mật Gạn đục
Triết đứng lặng bên mép vạc đồng vừa được cứu sống, bàn tay phải khẽ siết lấy cán chiếc muôi đồng dài, nơi ngón trỏ còn quấn dải vải trắng sạch sẽ của bà cô Lành. Sau khi tiếng hò reo xua đuổi đám người thương quán Vạn Hưng tắt dần ngoài cổng làng, sân lò Cảnh Ký bỗng chìm vào một khoảng lặng trang nghiêm đến nghẹt thở. Gió sớm từ bãi bồi sông Trà Khúc thổi qua rặng tre ngà xào xạc, cuốn theo những tàn tro rơm cuối cùng bay lất phất trên nền trời xanh ngắt. Hương mật mía de chín già trong vạc đồng cuồn cuộn bốc lên ngào ngạt, ấm nồng khắp chái nhà rường cổ kính.
Dưới ánh nắng mai rọi xiên qua kẽ lá, Triết dõi mắt nhìn theo từng bước chân của cụ Cố. Tấm lưng còng của cụ dường như thẳng hơn thường lệ. Đôi bàn tay gầy guộc chằng chịt những đường gân xanh cẩn trọng bưng chiếc bát sành da lươn đựng dòng mật vàng óng ả, trong vắt như hổ phách, không còn vương một gợn váng bẩn. Cụ bước từng bước chậm rãi, thong thả tiến về phía góc hiên chái tây. Nơi ấy, chú Ba Khiêm vẫn đang sụp quỳ bất động trên nền gạch tàu, hai bờ vai gầy run lên từng chặp, trán cúi gằm sát đất, chiếc áo the thâm sờn mép ướt đẫm mồ hôi dính bết vào lưng.
Cụ Cố dừng lại ngay trước mặt Khiêm. Triết thấy đôi tay cụ khẽ run run hạ thấp chiếc bát sành xuống ngang tầm mắt người cháu nội. Làn hơi mật ấm nồng bốc lên nghi ngút, phả vào khuôn mặt đang co rúm lại vì hoảng sợ của Khiêm.
— Khiêm, ngẩng đầu lên uống thử một ngụm mật xem con.
Giọng cụ Cố cất lên trầm ấm, từ tốn, không hề có nửa lời quở trách hay sấm sét giận dữ, tựa như tiếng chuông sớm buông giữa khoảng thinh không tĩnh mịch.
Nghe tiếng cụ Cố, Chu Thúc Khiêm khẽ giật mình. Hắn run rẩy ngước đôi mắt đỏ hoe, vằn vện những tia máu nhìn vào lòng bát. Triết thấy mặt nước mật trong bát phẳng lặng như một tấm gương soi, phản chiếu gương mặt hốc hác, bơ phờ và tơi tả của người chú ruột thịt. Khiêm mấp máy đôi môi khô khốc, hai hàm răng va vào nhau lập cập — Nội... cháu... cháu có tội với tổ tông... cháu không dám...
Cụ Cảnh khẽ thở dài một tiếng, ánh mắt mờ đục nhìn xa xăm về phía triền sông Trà mịt mùng sóng nước, giọng hoài niệm trầm lắng — Mấy mươi năm trước, khi cha con còn sống, cứ mỗi độ vừa lập xuân là hai cha con ta đã vác cuốc ra mé sông bạt gai, vỡ đất. Đất bãi bồi phù sa màu mỡ thật đấy, nhưng lau sậy sỏi đá gai góc cào rách tươm cả chân tay. Cha con nhịn ăn nhịn mặc, chắt chiu từng hom mía de cắm xuống ba sào đất bến này. Ngày ấy, cha con từng nói với ta: “Nhà mình dẫu nghèo khó, nhưng cây mía ngọt lành thì lòng người họ Chu cũng phải ngay thẳng, ngọt thanh như tảng đường phèn, dứt khoát không để một chút bùn nhơ vấy bẩn”. Ngày cha con không may bạo bệnh qua đời sớm, ta đau xót khôn nguôi, luôn tự dặn lòng phải bao bọc, chở che cho con nên người...
Triết đứng bên vạc đồng nghe từng lời của cụ Cố mà lòng thắt lại. Triết nhìn thấy hai bàn tay chú Ba Khiêm bứt rứt vò nát vạt áo the thâm, những giọt nước mắt bắt đầu trào ra, lăn dài trên đôi gò má gầy guộc.
Cụ Cảnh lại khẽ đưa chiếc bát sành tới gần hơn, ôn tồn bảo — Con nhìn vạc mật này xem. Mật mía non dầm mưa, dẫu có chua loét, lại bị rắc vôi sống tạp chất làm cho đục ngầu, khét lẹt, nhưng chỉ cần người thợ bền lòng hòa nước tro rơm nếp trong lành, rưới lòng trắng trứng gà tươi đánh tan, thì bao nhiêu bọt bẩn, cặn bã nhơ nhớp cũng đều gom lại nổi lên mặt vạc để ta vớt bỏ. Gạn đục rồi thì khơi trong. Nước mật lại óng ả, kết hạt thành ngọc thạch. Lòng người lầm lạc cũng vậy thôi con. Ở đời ai nên khôn mà chẳng dại đôi lần? Điều cốt tủy là phải biết vớt sạch bọt cặn trong tâm, lấy ân tình dòng tộc mà gạn đục khơi trong, tìm lại nếp nhà thanh bạch.
Mùi mật ngọt thơm ngào ngạt của tổ tiên phả vào cánh mũi quyện cùng lời dạy thấu suốt nhân tâm dường như đã đánh thức mầm thiện lương sâu kín trong lòng người cháu lầm lỡ. Triết thấy chú Ba run rẩy vươn hai bàn tay thô ráp đón lấy chiếc bát sành, kề lên môi nhấp từng ngụm nhỏ. Từng giọt nước mắt của chú rơi tí tách vào vành bát.
Uống xong ngụm mật, Khiêm run rẩy đặt cẩn thận chiếc bát sành xuống mép thềm gạch rồi dập đầu quỳ rạp dưới chân cụ Cố, nấc nghẹn từng tiếng xé lòng — Nội ơi! Cháu sai rồi! Cháu thật sự biết tội rồi! Cháu u mê tăm tối, cháu đớn hèn làm nhục nhã gia môn!
Tiếng khóc của Khiêm vang vọng khắp sân lò Cảnh Ký. Bao nỗi giằng xé, hoảng loạn dồn nén suốt bao ngày qua bỗng vỡ òa thành những lời thú tội đắng cay trước sự chứng kiến của toàn thể tộc nhân họ Chu — Cháu trót sa chân vào sới bạc bên cảng Thu Xà, bị người ta giăng bẫy lừa sạch tiền nong, mắc nợ Lại Bá Hào đúng năm trăm đồng bạc hoa xòe. Gã sai quân đâm chém đe dọa sẽ chặt tay, cướp đoạt nhà cửa, dồn cháu vào bước đường cùng không lối thoát. Gã hứa nếu cháu chịu tiếp tay phá hỏng mẻ đường cốt tử này, khiến họ Chu không kịp giao hạn hai trăm tạ đường phèn, phải gán ba sào đất bến sông trừ nợ, thì gã sẽ xóa sạch món nợ năm trăm đồng và cho cháu thêm tiền mở lò riêng... Cháu vì lòng tham thiển cận, vì mặc cảm thân phận con thứ luôn bị lép vế, lại sợ hãi nợ nần mà mờ mắt rước bao vôi tạp về rắc vào vạc đồng, lén đón thuyền mật non trong đêm mưa rào... Cháu có tội tày đình với tổ tông, xin Nội và dòng họ cứ đem gia pháp ra đánh chết cháu đi!
Những lời thú tội đau đớn của Khiêm rơi xuống sân lò như gáo nước lạnh tạt vào khoảng thinh không.Triết đưa mắt nhìn sang phía chi thứ. Ông Chu Thúc Bản cùng mấy người bà con đứng chết sững, sắc mặt chuyển từ kinh ngạc sang tái mét, rồi đỏ bừng lên vì hổ thẹn tột cùng. Mấy người chú bác chi thứ ban sáng còn hung hăng đòi tước chìa khóa kho trữ, đòi chia cắt ba sào đất hương hỏa bến sông, giờ đây ai nấy đều cúi gằm mặt, hai tai đỏ ửng, chân tay lúng túng không biết trốn đi đâu.
Ông Bản run rẩy bước lên hai bước, hai tay chắp lại trước ngực, cúi đầu tạ tội trước cụ Cố và bà con họ tộc — Thưa Cụ Cố... Chúng con... chúng con thật có mắt như mù! Chúng con hồ đồ nghe lời xúi giục của thằng Khiêm và phường buôn gian manh, suýt nữa làm tan nát cơ nghiệp trăm năm của tổ tiên để lại. Con mang tội lớn với tổ tông, với Cụ Cố và cháu Triết...
Bà Chu Thị Lành đứng bên mép chõng tre khẽ lấy vạt khăn rằn lau giọt nước mắt lăn dài trên gò má nhăn nheo, thở dài một tiếng nghẹn ngào — Anh em một nhà cùng chung một khúc ruột... Suýt chút nữa vì mấy đồng bạc ngoài ngõ mà cốt nhục tương tàn.
Nhìn cảnh chú Ba Khiêm quỳ rạp dưới thềm đá, trán rớm máu vì dập đầu trên nền gạch, hai bàn tay thô ráp đập xuống đất đầy vẻ tuyệt vọng, bao nhiêu nỗi căm giận và cay đắng trong lòng Triết sau trận xô xát ban sáng bỗng chốc tan biến như khói rơm gặp gió sông. Triết nhớ lại những ngày thơ ấu, khi cha và ông nội đều bạo bệnh qua đời sớm, nhà trưởng neo người, chính người chú Ba này đã từng cõng Triết lội bùn qua nương mía, từng vót chiếc chong chóng tre cho Triết chơi bên bến sông rộn rã tiếng cười. Người chú ấy vốn thuần hậu, chỉ vì cờ bạc ma quỷ dẫn lối và nỗi mặc cảm dồn nén bấy lâu mà lỡ bước sa chân vào ngõ cụt tăm tối.
Triết buông chiếc muôi đồng, rảo bước lại gần, cúi mình ôm lấy đôi bờ vai gầy guộc đang rung lên bần bật của chú Ba, dùng sức nâng chú dậy — Chú Ba... Chú đứng dậy đi chú!
Chu Thúc Khiêm ngước khuôn mặt đầm đìa nước mắt nhìn lên, ánh mắt đầy vẻ sượng sùng và hổ thẹn — Triết... Mày... mày không hận chú sao? Chú suýt nữa đã hại mày mất tên trong gia phả, hại mày bị đuổi khỏi làng...
— Cháu không giận chú nữa đâu, chú Ba, — Triết nghẹn ngào, giọng chân thành từ đáy lòng. — Cháu biết chú bị phường gian thương dồn ép đến bước đường cùng mới quẫn trí làm liều. Nay vạc mật đã được cứu sống, chú đã nhận ra lỗi lầm, thì tình máu mủ ruột thịt nhà mình vẫn còn nguyên vẹn. Đứng dậy đi chú, cháu với chú cùng nhau gánh vác lò đường!
Chu Thúc Khiêm run rẩy nắm lấy bàn tay còn quấn dải vải trắng của Triết, òa khóc nức nở như một đứa trẻ. Hai chú cháu ôm lấy nhau giữa khoảng sân lò nồng đượm hương mật, xóa tan mọi rạn nứt, hờn ghen bấy lâu giữa hai chi phái họ Chu.
Cụ Chu Hoài Cảnh chống chiếc gậy tre ngà đứng nhìn đàn con cháu, khóe mắt mờ đục rưng rưng niềm xúc động khôn tả. Cụ dằn nhẹ ba tiếng gậy xuống thềm đá, giọng đanh thép mà chan chứa bao dung vang vọng khắp sân lò — Mọi người nghe đây! Họ Chu ta lập nghiệp bên sông Trà bốn đời nay, lấy chữ Tín làm đầu, lấy đức hiếu đễ làm gốc. Nay giặc buôn đã bị đuổi, lòng người đã sáng tỏ. Cả dòng họ ta sẽ đồng lòng, dốc toàn lực hoàn thành hai trăm tạ đường phèn hảo hạng này đúng kỳ hạn mười lăm ngày còn lại để giữ trọn ba sào đất tổ! Tiền bán đường sau khi giao đủ, họ Chu sẽ trích ra trả trọn món nợ năm trăm đồng bạc hoa xòe cho thằng Khiêm, quyết không để người nhà mình phải chịu cảnh tù tội hay nhơ nhuốc với phường ngoài ngõ!
Cả sân lò chấn động. Thúc Khiêm cùng ông Bản bàng hoàng ngước nhìn cụ Cố, không ngờ tấm lòng của bậc trưởng tộc lại bao la và độ lượng đến nhường ấy.
Cụ Cảnh đưa mắt nhìn xoáy vào Thúc Khiêm, nghiêm giọng buông lời răn dạy — Nhưng họ Chu ta có ơn thì thưởng, có tội phải phạt, gia phong không thể buông lơi. Thằng Khiêm thoát tội đòn roi gia pháp, nhưng phải chuộc lỗi với tổ tông. Ngay từ canh năm ngày mai, sau khi mật nấu già rót vào lu sành, con phải cùng thằng Triết thức trọn chín ngày chín đêm canh buồng ủ lu, từng khắc giữ than ấm, không được lơ là một phút nào, cho đến ngày từng khối đường phèn kết tinh thành ngọc mới thôi!
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
