Chương 12: Uy đức Trăm Năm
Tiếng gậy tre ngà dằn xuống thềm đá xanh buông từng nhịp khô khốc, chậm rãi mà tựa như tiếng lệnh truyền giữa cơn dông bão.
Cụ Chu Hoài Cảnh bước xuống từng bậc thềm rêu phong. Dưới cặp chân mày bạc rủ dài, đôi mắt mờ đục của tuổi một trăm lẻ hai quét quanh sân lò đang nghẹt thở. Dù mắt đã phủ sương mờ, cụ vẫn nghe rõ từng hơi thở dồn dập và luồng tà khí hỗn loạn bốc lên từ lòng dạ con cháu.
Trước cửa kho chái tây, Chu Vĩnh Triết vẫn sừng sững ghì chặt chùm chìa khóa đồng vào bụng, ngón tay trỏ rỉ máu đỏ tươi thấm đẫm vạt khăn rằn. Cách đó nửa bước, Chu Thúc Khiêm giơ cao chiếc nghiên mực đá, khóe miệng dính bọt mép, toàn thân cứng đờ như tượng vôi dở dang.
Cụ Cảnh dừng gậy tre ngà trước đám đàn ông chi thứ, cất giọng trầm đục như tiếng sấm rền đáy sông — Khiêm! Bản! Hai đứa bây toan làm loạn trước bài vị tổ tông đó hả?
Chu Thúc Bản vội rụt tay về sau lưng. Chu Thúc Khiêm run bắn, chiếc nghiên mực trên tay suýt rơi xuống gạch, ấp úng phân trần — Nội... Nội không biết đó thôi! Hai vạc đồng đã chết cặn, mẻ đường hai trăm tạ coi như tan tành... Thằng Triết ngoan cố muốn kéo cả họ Chu chết chìm! Cháu chỉ muốn chia ba sào bến sông để chi thứ tự cứu lấy mình...
— Câm miệng!
Cụ Cảnh dằn mạnh đầu gậy tre xuống thềm gạch. Tiếng va chạm chát chúa làm Khiêm nín bặt. Ánh mắt cụ Cố quắc lên, từng nếp nhăn nơi khóe mắt rung lên nỗi xót xa dồn nén — Gia tộc gặp hoạn nạn, kẻ làm chú bác không cùng nhau gánh vác, lại vội xách dao róc thịt cốt nhục, đòi dâng cơ nghiệp ông cha cho phường buôn ngoại bang! Đạo lý luân thường của họ Chu, các anh vứt đi đâu rồi?
Cụ bước tới, chìa bàn tay gầy guộc ra — Đưa tờ giấy xằng bậy ấy đây cho ta!
Thúc Khiêm sợ sệt, đành run rẩy rút tờ văn tự phân chia đất bằng chữ Nho đưa ra.
Cụ Cảnh đón lấy tờ giấy, chẳng buồn nhìn nét chữ xảo trá, hai bàn tay thô ráp dứt khoát xé toạc làm đôi rồi xé làm tư, vứt thẳng vào nghiên mực đen dưới đất.
— Mảnh đất hương hỏa phù sa này là mồ hôi nước mắt của bốn đời tiên tổ dày công khai hoang lập nghiệp! Chừng nào ông già này còn thở, không một ai được phép tơ hào chia cắt lấy một tấc!
Cụ Cảnh quay sang đám người chi thứ, cất giọng rành rọt — Bản văn tự gốc còn ghi rõ mười lăm ngày! Lời thề của thằng Triết trước hương án tổ tiên còn rỉ máu trên vạt khăn rằn! Họ Chu trăm năm nay bên bờ sông Trà chưa từng chịu khuất phục, nay mới gặp chút trắc trở đã vội quỳ gối đầu hàng hay sao?
Khoảng sân gạch im phăng phắc. Đám đàn ông chi thứ hổ thẹn cúi đầu, không ai dám thốt lên nửa lời.
Cụ Cảnh xoay người, chống gậy tre ngà chậm rãi tiến về phía hai chiếc vạc đồng nguội lạnh giữa sân lò.
Khứu giác tinh tường tích tụ hơn một thế kỷ đón lấy luồng hơi bốc lên từ lòng vạc: không phải mùi thơm ngọt của mật mía de chín già, mà là vị the khét ngột ngạt, cay xè và chua loét. Cụ dừng lại, đưa đầu gậy gõ nhẹ vào thân vạc “Coong... Coong...”Tiếng đồng vang lên khô khốc, nặng nề như bị bóp nghẹt bởi lớp cặn dày.
Cụ Cảnh còng lưng nhìn vào đáy vạc. Lớp màng đen kịt xù xì bám chặt kim loại, những vết nứt toác nhe ra như mai rùa nung. Cụ vươn tay quệt một mẩu cặn giòn vụn, đưa lên sát mũi khẽ hít một hơi sâu.
Mùi hắc nồng của bột vôi sống xộc vào mũi. Kế đó, cụ chạm nhẹ đầu ngón tay vào đầu lưỡi. Vị chát đắng lợ cợn lan tỏa cùng vị chua gắt của mật mía non dầm mưa nơi thượng nguồn. Cụ khẽ thở dài. Mọi sự dối trá trong đêm mưa canh ba bỗng hiện rõ mồn một trong tâm trí cụ. Mật non phèn chua lẫn vôi sống tạp chất... Giặc buôn Lại Bá Hào dùng độc kế hòng nuốt trọn lò Cảnh Ký, mà đứa cháu ruột của cụ lại cam tâm tiếp tay chỉ vì món nợ đỏ đen!
Cụ quay đầu lại, ánh mắt xuyên qua làn sương mờ chiếu thẳng vào Chu Thúc Khiêm. Thấy cụ Cố nếm cặn vạc rồi nhìn mình trừng trừng, trán Khiêm toát mồ hôi hột ướt đẫm, hai đầu gối va vào nhau lập cập. Gương mặt y tái mét, vội vã cụp mắt né tránh ánh nhìn của cụ Cố, lấm lét lùi dần từng bước về phía bóng tối chái tây.
Cụ Cảnh nén nỗi đau nơi đáy dạ, dõng dạc truyền lệnh — Bản! Chiều nay, anh sang nhà ông Lý trưởng Phan Đăng Khôi, mời ông Lý cùng các vị bô lão làng An Hội sáng mai sang đây chứng kiến họ Chu nổi lửa!
Chu Thúc Bản lắp bắp — Dạ... thưa Cố... Vạc đã chết cặn thế này, làm sao nấu được nữa ạ?
— Ta còn sống, lò Cảnh Ký chưa thể chết! — Cụ Cảnh dằn từng tiếng đanh thép. — Thằng Triết vẫn giữ vạc nhà trưởng! Sáng sớm mai, đích thân ông già một trăm lẻ hai tuổi này sẽ đứng vạc truyền thụ phép “lắng tro rơm, lọc bọt trứng”, dùng lửa đỏ gạn sạch cặn nhơ, cứu mẻ mật trước mặt chức dịch và toàn thể họ tộc! Ai dám bàn lùi, ai dám chia rẽ cốt nhục, ta chiếu gia pháp họ Chu mà trục xuất khỏi từ đường!
Uy đức trăm năm tỏa ra khiến toàn bộ người chi thứ bàng hoàng nín lặng. Từng lời của cụ Cố tựa như đá tảng đè bẹp mọi toan tính vị kỷ. Đám đàn ông chi thứ lủi thủi cúi đầu lui dần ra cổng lò. Chu Thúc Khiêm lấm lét lẩn khuất sau đống lu sành chái tây, bóng áo the thâm run lên trong góc tối nhập nhoạng.
Bà Chu Thị Lành lau nước mắt, vội bước lại đỡ lấy cánh tay cha. Chu Vĩnh Triết cũng bước tới, mắt đỏ hoe nhìn cụ Cố, tay vẫn nắm chặt chùm chìa khóa đồng. Cụ Cảnh khẽ vỗ nhẹ lên mu bàn tay chàng chắt đích tôn, gật đầu rồi chậm rãi quay gậy bước vào nhà trong.
Đêm ấy, sương muối phủ dày mặt sông Trà Khúc. Gió bãi bồi thổi qua rặng tre xào xạc, mang theo hơi lạnh luồn qua khe liếp chái sau nhà rường.
Trên chiếc chõng tre nâu bóng, ngọn đèn dầu hỏa leo lét tỏa quầng sáng vàng dịu. Cụ Chu Hoài Cảnh ngồi ngay ngắn, lưng hơi còng nhưng nét mặt tĩnh tại như mặt hồ thu.
Nghe tiếng bước chân ngoài cửa, cụ không quay đầu, cất tiếng trầm ấm — Triết đó hả con? Khép cửa lại rồi vào đây với Cố.
Chu Vĩnh Triết khẽ khàng đẩy cửa bước vào, cúi đầu vòng tay thưa gửi. Ngón tay trỏ của chàng đã được bà Lành băng lại bằng mảnh vải trắng tinh, nhưng nét âu lo vẫn hằn sâu trên vầng trán trẻ.
Cụ Cảnh chỉ tay vào góc chái sau. Nơi ấy, một bó rơm nếp mùa trước vàng óng đã xếp ngay ngắn tự bao giờ. Cạnh đó là chiếc liễn sành da lươn đựng đầy tro rơm mịn màng xám trắng, được rây lọc cẩn thận không vướng một hạt sạn.
Thấy chắt ngơ ngác chưa hiểu thâm ý, cụ Cảnh khẽ mỉm cười, đôi mắt mờ đục nhìn vào ngọn đèn dầu bập bùng — Triết à... Con có biết vì sao cây lúa nếp dầm mưa dãi nắng trổ bông, khi đốt thành tro lại có thể gạn sạch cái chua, cái đục của mật mía hay không? Đời người hay mẻ đường cũng vậy thôi con... Muốn nước mật kết hình thành ngọc thạch trong suốt, lòng người đứng vạc phải biết nhẫn nại đi qua tro bụi, biết gạn đục khơi trong...
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
