Chương 7: Sóng Gió Nhà Rông

Hồi mõ giục giã dứt hẳn, để lại chuỗi âm thanh lanh lảnh vang dội từ vách đá vôi xám lạnh ngắt của rặng Ngọa Nham. Tiếng loa đồng the thé vừa tắt ngấm thì không gian thung lũng bỗng chìm vào sự ngột ngạt đến nghẹt thở. Cụ Từ Vĩnh Xuyên buông cần gạt chính của bễ thụt, đưa vạt áo chàm lau vệt muội than trên trán. Cụ quay sang nhìn hai đứa cháu nhỏ, ánh mắt đượm vẻ điềm tĩnh “Mẫn, Thảo, hai đứa cất bễ rồi đi cùng ông. Lòng người đang dao động, ta không thể để bà con chìm trong hoang mang.”

A Mẫn vội giắt cây búa gò bọc da thú vào thắt lưng, còn A Thảo khẽ bám lấy gấu áo ông nội. Cụ Từ chống cây gậy gỗ nghiến mòn nhẵn, từng bước chậm rãi nhưng vững chãi dẫn hai cháu rời doi đất cao xưởng rèn, đi về phía trung tâm bản làng.

Khoảng sân rộng trước ngôi nhà rông cổ kính đã chật ních hơn ba trăm con người của bảy mươi hai nóc nhà sàn. Những gương mặt người dân chất phác hằn sâu nỗi âu lo sau trận sạt lở đêm qua; trẻ nhỏ nép sau váy mẹ, trai tráng đứng chụm lại thì thầm bàn tán. Bậc thang gỗ lim dẫn lên sàn nhà rông nhẵn bóng qua bao đời nay dường như cao hơn thường lệ. Cụ Từ đặt chân lên từng bậc gỗ, đôi tai Thông Địa Nhĩ bắt thấu sự rung rinh xao xác phát ra từ bước chân và nhịp tim dồn dập của dân bản.

Khi bóng áo chàm quen thuộc của ba ông cháu hiện ra nơi cửa lớn, cả gian nhà rông thênh thang bỗng im bặt.

Ngay vị trí trang trọng giữa gian sàn, Đỗ Bách Lương đứng sừng sững bên cạnh Trạm đầu Tiết Hồng Quan. Bang chủ Thiết Lôi Thương Hội hôm nay khoác chiếc áo gấm thêu hoa sẫm màu lộng lẫy, ngón tay mập mạp lấp lánh mấy chiếc nhẫn ngọc phỉ thúy. Cạnh chân gã, hàng chục bao gạo trắng tinh chất cao như núi cùng những khay gỗ bày la liệt thỏi bạc vụn sáng lóa, mở toang hòng phô trương sự cứu tế hào phóng. Tiết Hồng Quan trong bộ võ phục da thuộc nạm đồng đứng khoanh tay, ánh mắt láo liên nhìn lướt qua đám đông rồi dừng lại trên người cụ Từ.

Đỗ Bách Lương tiến lên nửa bước, chắp tay cười xởi lởi, giọng the thé cất lên “Từ lão trượng đã tới! Bản hội chủ cùng Tiết trạm đầu chờ cụ mãi. Núi non rạn vỡ, bà con đói khổ kinh hoàng, Thiết Lôi Thương Hội chúng tôi chẳng quản đường xa, chở gạo trắng và bạc lành đến tận bản Hạc Lăng để san sẻ chút lòng thành.”

Gã khẽ hất hàm, một tên thuộc hạ liền bưng khay bạc vụn tới trước mặt Trưởng bản Ma Luân. Đỗ Bách Lương quay ngoắt sang phía dân làng, giọng bỗng chốc trầm xuống đầy vẻ thê lương, giả bộ rầu rĩ “Nhưng hỡi ôi bà con! Gạo bạc dẫu nhiều đến mấy cũng chỉ cứu đói qua ngày, làm sao ngăn được đá tảng từ trời cao giáng xuống? Sáng nay, quan phòng đô thành cùng các bậc thầy phong thủy đã thẩm định địa tầng vách Hạc Ngực. Thảm họa đêm qua máng nước vỡ tan tành không phải do trời giận, mà bởi có kẻ đã phạm vào đại kỵ của non thiêng!”

Một làn sóng xôn xao lập tức rộ lên khắp sàn gỗ. Bà con nhìn nhau, vẻ hoang mang tột độ hiện rõ trên từng khuôn mặt.

Tiết Hồng Quan chớp lấy cơ hội, bước giậm chân cồm cộp lên sàn nứa, tuốt nửa lưỡi đao ngắn bên hông ra làm bằng chứng, giọng hách dịch vang rền “Lệnh quan phòng đã định rõ! Núi Hạc Ngực là long mạch ngàn năm che chở cõi Thương Châu. Xưởng rèn Từ Gia tự tiện gò chiêng mười hai múi sai tiết khí, dùng tạp âm kim khí đánh thức ác linh ngủ vùi trong ruột đá, khiến thạch mạch chấn động dữ dội! Đêm qua, nếu không nhờ trạm tuần kịp thời phong tỏa sườn dốc, tiếng chiêng tà mị kia đã kéo sập cả nửa ngọn non cao xuống đầu bảy mươi hai nóc nhà rồi!”

“Đúng thế!” Đỗ Bách Lương bồi thêm, ánh mắt sắc như dao lướt qua đám đông. “Muốn bản làng được bình yên, muốn tránh họa diệt vong thì chỉ có một con đường: Dập lửa lò đúc, phá bỏ đe bễ của Từ Gia, giao toàn bộ quyền tuần tra canh giữ hang ngầm Hạc Ngực cho trạm tuần và thương hội chúng tôi trông nom!”Lời vu cáo hiểm độc như gáo nước lạnh tạt vào chảo mỡ đang sôi. Những người dân bản Hạc Lăng vốn mộc mạc, thật thà, đêm qua vừa tận mắt chứng kiến máng nước bương bị đá tảng đè bẹp dí, nay nghe trát lệnh quan trên và lời hăm he tà thuật thì hồn xiêu phách lạc. Họ bắt đầu dạt ra hai bên, ném về phía cụ Từ những ánh nhìn ngờ vực, e dè và khiếp sợ.

“Cụ Cả… tiếng chiêng đêm qua thật sự… làm động long mạch sao?” Một người đàn ông trung niên run rẩy cất tiếng.

“Chẳng lẽ lời quan trạm đầu là thật? Từ ngày xưởng rèn đỏ lửa rèn cỗ chiêng lớn, suối Ngân Xích đã đục ngầu…” Vài tiếng bàn tán phụ họa nổi lên.

A Mẫn đứng cạnh cụ Từ, hai bàn tay siết chặt lấy cán búa gò con giắt bên hông, gân xanh nổi cuồn cuộn trên trán “Các người ngậm máu phun người! Ông nội tôi dùng tiếng chiêng cứu bản, chính đám thợ mỏ các người lén lút mang bột sấm sét—”

“Mẫn! Lùi lại.” Giọng cụ Từ trầm ấm vang lên, ngắn gọn nhưng đanh thép ngăn cậu thiếu niên lại.

Cụ Từ đứng sừng sững giữa gian nhà rông, thân hình gầy guộc tựa như cây bách cổ thụ đón gió ngàn. Cụ nhìn thẳng vào mắt Đỗ Bách Lương và Tiết Hồng Quan, ánh mắt trong veo không gợn chút sợ hãi hay oán hờn “Đỗ bang chủ, Tiết trạm đầu. Lão già này gò chiêng nơi thung lũng Hạc Lăng ngót một trăm năm có lẻ. Đồng hun mười hai múi thuận theo mười hai tiết khí đất trời, tiếng gõ trầm ấm chỉ biết vỗ về đá lở, che chở xóm làng, chưa từng có một nhịp búa nào tà mị hại người. Mạch đá rên xiết là vì có kẻ đục khoét ruột non bằng tà đạo, chứ cớ sao lại đổ riệt cho ngọn lửa lò đúc Từ Gia?”

Dân bản nghe giọng cụ Từ đĩnh đạc, ấm áp tựa như tiếng đồng hun quen thuộc thì thoáng ngơ ngác, những ánh mắt nghi kỵ lại chùng xuống.

Nhận thấy tình hình căng thẳng, Trưởng bản Ma Luân đứng bật dậy giữa hai làn dư luận. Ông giơ cao cây gậy đầu bịt đồng, mặt vuông chữ điền đanh lại, cất giọng sang sảng “Chư vị và bà con hãy bình tâm! Bản mỗ quản lý bảy mươi hai nóc nhà, một tấc đất một cành cây đều có hương ước. Cụ Cả trăm ba mươi sáu tuổi, công đức với bản làng tựa núi Thái Sơn, há có thể nói phá lò là phá ngay được? Còn trát lệnh trạm tuần mang về, bản mỗ cần cùng các bô lão hội ý kỹ càng, quyết không để việc hồ đồ làm tổn hại nghĩa tình chòm xóm!”

Tiết Hồng Quan sầm mặt định quát tháo, nhưng Đỗ Bách Lương đã kịp giơ bàn tay đeo nhẫn ngọc ngăn lại. Trên gương mặt béo tốt của gã hiện lên một nụ cười nham hiểm, lạnh tanh tựa như gió bấc luồn qua thớ đá mục.

Gã thò tay vào bọc gấm, chậm rãi rút ra một tờ giấy văn tự màu vàng đất có đóng triện đỏ chót của quan phòng, giơ thẳng về phía cụ Từ “Trưởng bản Ma Luân muốn hòa giải cũng được thôi. Nhưng lệnh quan như núi, trát sức đã ban xuống rành rành. Từ lão trượng, tôi nể cụ là bậc cao niên nên cho cụ một cơ hội chứng minh sự trong sạch. Bản văn tự này hạn đúng trong ba ngày. Nếu sau ba ngày cụ không tìm ra chứng cớ chứng minh đá lở chẳng liên quan đến xưởng rèn, thì ngọn lửa lò đúc Từ Gia bắt buộc phải dập tắt vĩnh viễn, đe đá xanh phải bị đập vỡ trước mặt toàn thể dân làng!”

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.