Chương 13: Tấm Lòng Đổi Lấy Lửa
Sàn nứa rung bần bật như vó ngựa dồn, cột cái nhà rông nghiêng ngả khiến hơn ba trăm con người hoảng loạn xô đẩy nhau chạy về phía cửa thang. Tiếng gào khóc của đàn bà con trẻ quyện trong tiếng ngói tranh rào rào rơi rụng. Giữa cơn tao loạn tưởng chừng giẫm đạp đứt ruột ấy, cụ Từ Vĩnh Xuyên liền vươn tay rút cỗ chiêng đồng mười hai múi nhỏ đeo bên sườn, tay kia cầm chiếc dùi bọc nỉ dày mềm vung lên.
“Boong… uông…”
Một tiếng gõ trầm đục nhưng rền vang, mềm mại như dòng suối luồn qua khe đá, lan tỏa khắp gian nhà rông đang chao đảo. Âm ba không chát chúa mà thấm sâu vào màng nhĩ, đón lấy nhịp rung lắc của mặt đất rồi vuốt êm cơn chấn động. Kèm theo tiếng ngân ấm áp, giọng nói đĩnh đạc của cụ Từ cất lên, vang rền át cả nỗi sợ hãi “Bà con bình tâm! Đứng vững chân, đừng xô nhau ngã gãy xương!”
Tiếng chiêng như neo lại hồn vía dân làng. Đám đông sực tỉnh, tiếng la hét lắng xuống, người già ôm lấy con trẻ nép sát chân cột lớn. Lợi dụng khoảnh khắc hỗn loạn vừa chùng xuống, Đỗ Bách Lương vội vã lủi qua vách liếp hở, kéo theo Tiết Hồng Quan cùng mấy tên lính tuần lén lút chuồn mất dạng dưới màn bụi mù. A Mẫn định đuổi theo nhưng cụ Từ khẽ đặt bàn tay gầy guộc lên vai ngăn lại, ánh mắt cụ nhìn thẳng ra vách núi Hạc Ngực xa xăm.
Khi mặt đất dần ngưng run rẩy, bà con dìu nhau bước ra khoảng sân rộng trước nhà rông, ai nấy đều bàng hoàng ngước nhìn vết nứt đen ngòm vừa rạch toang sườn non. Trưởng bản Ma Luân cùng các bô lão quây quanh cụ Từ, gương mặt xạm đi vì âu lo tột độ.
Cụ Từ nhìn khắp lượt dân bản, cất giọng trầm buồn mà rành rọt “Thưa các bô lão, thưa bà con. Vách Hạc Ngực đã rỗng sâu hơn trăm trượng, thạch mạch đứt gãy chẳng khác nào thân cây mục ruỗng chờ gãy đổ. Vết nứt này không thể vá víu bằng đất đá hay cọc gỗ. Chỉ có một cách duy nhất: đúc cỗ đại chiêng mười hai múi ‘Hạc Lăng Trấn Nhạc’. Khi vách non sạt trượt, nhịp búa gò mười hai múi sẽ đón đầu thớ nứt, nắn dòng địa chấn ngầm ghìm giữ vách đá trong chốc lát để bà con kịp dắt díu nhau vào hang sâu lánh nạn.”
Trưởng bản Ma Luân vội vã tiếp lời “Cụ Cả đã nói vậy, bản mỗ xin đem hết sức già này cùng xưởng rèn hành sự! Mau nhóm lò thôi Cụ!”
Nhưng đôi mày bạc của cụ Từ khẽ chau lại, nét mặt đượm vẻ trăn trở khôn nguôi “Ngặt một nỗi, cỗ đại chiêng ấy mặt rộng sáu thước sáu tấc, nặng tới ba trăm hai mươi cân đồng hun nguyên chất mới đủ sức tải âm chấn lòng non. Lượng đồng sạch trong xưởng lão… gom hết thỏi vụn cũng chẳng thấm tháp vào đâu.”
Cả khoảnh khắc ấy, khoảng sân lặng ngắt như tờ. Ba trăm hai mươi cân đồng đỏ tinh khiết giữa chốn sơn cước nghèo khó này là một gia tài khổng lồ, đào đâu ra trong chớp mắt?Bỗng một bóng người bước ra. Bác Vàng Pao, người từng dẫn đầu đám đông vây xưởng cụ Từ mấy hôm trước, run rẩy quỳ xuống trước mặt người thợ già. Hai tay bác kính cẩn nâng chiếc đỉnh đồng xông trầm chạm nổi hình chim hạc – vật gia bảo ba đời truyền lại của dòng họ “Cụ Từ ơi, cháu có mắt như mù, hồ đồ nghe lời gièm pha mà nghi oan cho xưởng rèn cứu mạng. Chiếc đỉnh đồng này là của tổ tiên để lại, cháu xin gửi cụ nấu chảy làm chiêng. Cứu được tính mạng bản làng thì tổ tiên cháu nơi suối vàng mới mỉm cười nhắm mắt!”
Chưa dứt lời, cụ Keng tóc bạc lơ thơ cũng lập cập lần dải yếm, tháo ra đôi vòng đồng sáng bóng đeo trên cổ tay gầy guộc “Cụ Cả nhận cho! Đôi vòng này tôi để dành mừng tuổi hai đứa cháu nội, nay đem đúc chiêng giữ đất cho chúng nó có chỗ nương thân!”
Ân tình bừng lên như đóm lửa gặp than nỏ. Từng tiếng hô, từng bước chân rộn rã xua tan nỗi e ngại ngập ngừng. “Nhà tôi có chiếc chảo đồng lớn!”, “Nhà cháu còn đôi mâm đồng cưới!”, “Tôi về gỡ hai chiếc thau đồng!”… Chẳng ai bảo ai, từng nóc nhà sàn rầm rập tỏa về các ngõ ngách thung lũng.
Chỉ chưa đầy hai tuần trà, sân xưởng Từ Gia đã chật ních người qua lại. Đàn ông vác những chiếc vạc đồng bóng loáng, thanh niên khiêng những cối đồng nặng trịch, phụ nữ bưng thau, ấm, muôi đồng sứt quai… Tất cả tự nguyện trút xuống giữa sân, va vào nhau tạo nên những âm thanh lanh canh trong trẻo, rộn rã khắp núi rừng. Đống đồng thau, đồng đỏ mỗi lúc một cao, ánh kim loại lấp lánh phản chiếu khuôn mặt rạng rỡ, chan chứa yêu thương của hơn ba trăm con người Hạc Lăng.
A Mẫn đứng sững giữa sân, đôi mắt đỏ hoe vì xúc động. Cậu xắn cao tay áo chàm, quay sang cụ Từ nghẹn ngào “Ông nội… lòng người bản ta như thế này, dẫu đá nát núi tan cũng không sợ nữa rồi!”
Cụ Từ mỉm cười đôn hậu, ánh mắt ngời sáng niềm tin sắt đá. Cụ đưa bàn tay chai sần xoa đầu đứa cháu nội, rồi cất tiếng vang rền truyền khắp xưởng “Bà con gom đồng cho lửa, lão già này xin đem tấm lòng đổi lấy bình yên muôn đời! Trai tráng đâu, theo anh Luân nạo vét than tro, xới rãnh dẫn khí! Đàn bà con gái sàng cát vàng đắp ụ! Trận lửa này, chúng ta cùng nhau đánh cược với trời đất!”
Tiếng dạ ran cả góc thung lũng. Hơn ba trăm con người xắn tay áo lao vào việc. Tiếng cuốc xới đất nện huỳnh huỵch, tiếng rựa phát quang bụi rậm, tiếng gọi nhau í ới quanh lòng lò đúc âm đất đã xua tan hoàn toàn bóng ma sợ hãi. Tình làng nghĩa xóm sâu nặng kết thành một khối vững chãi hơn cả tường thành đá vôi rặng Ngọa Nham.
Thế nhưng, khi đống đồng vụn lấp lánh ánh kim chất cao quá đầu người bên bờ lò, một cơn gió quẩn lạnh buốt từ đỉnh Hạc Ngực bất thần quét thốc xuống thung lũng.
Cụ Từ giật mình ngước lên. Trên vòm trời cao, những dải mây đen kịt như mực tàu từ bốn phương rặng Ngọa Nham bất ngờ ùn ùn kéo tới che kín ánh mặt trời, mang theo hơi nước ngai ngái nồng nặc báo hiệu một trận mưa lũ trái mùa dữ dội sắp đổ ập xuống non ngàn.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
