Chương 3: Đào Đất Tìm Hũ Đậu Nghìn Năm
Cụ Bì Thục Oanh chống chiếc gậy trúc già xuống nền đất nện, tiếng cộp khô khốc vang lên giữa gian nhà đang chìm trong u uất. Ánh mắt cụ lướt qua đứa con cả đang ôm đầu gục mặt nơi bậu cửa, rồi dừng lại ở Nhị Hòa nét mặt còn bàng hoàng bên vách nứa.
“Đứng dậy cả đi,” giọng cụ Oanh trầm xuống, không còn vẻ gay gắt ban nãy mà đượm một nỗi xót xa sâu kín. “Trời sập cũng chưa đè chết người biết cày cuốc. Vào bếp dọn cơm, bụng đói thì chẳng nghĩ thông được việc gì đâu.”
Ngọn đèn dầu hạt đỗ thắp lên trên chiếc chõng tre ọp ẹp khi bóng tối buông hẳn xuống thôn Ngọa Ngưu. Mâm cơm tối đạm bạc dọn ra chỉ có một âu cháo ngô loãng nấu độn rau tàu bay cùng đĩa dưa cải muối chua. Hai đứa nhỏ Thu Mạch và Thu Trạch khép nép ngồi một góc, đôi mắt trong veo lấm lét nhìn hai người lớn. Cả Đại Lực lẫn Nhị Hòa đều bưng bát mà đũa chẳng buồn so, miếng ăn nghẹn đắng nơi cuống họng.
Cụ Oanh đặt bát cháo xuống mặt chõng tre, ánh mắt già nua nhìn thẳng vào hai người con trai đã ngoại tứ tuần. Cụ thở dài một tiếng, chậm rãi bảo “Đại Lực, Nhị Hòa, hai đứa các con từ thuở lọt lòng đã uống nước con suối Lạc Thủy, ăn ngô khoai trên mảnh đất này mà lớn. Năm mẫu ruộng hương hỏa ngoài kia, từng tấc đất thịt pha cát đều thấm đẫm mồ hôi của ông bà, cha mẹ khai hoang vỡ rậm. Đất đai là bầu sữa, là gốc rễ của nhà nông. Người ta bảo cây cỏ phù hoa phương Bắc đem lại bạc trắng, nhưng có ai tự hỏi rễ cây không bám nổi đất mẹ thì lấy gì trổ hoa kết quả? Chạy theo ảo mộng làm giàu nhanh của quân buôn giảo hoạt, chẳng khác nào tự chặt đứt rễ cây của chính mình.”
Bì Đại Lực buông rơi đôi đũa tre xuống mâm, hai bả vai vạm vỡ run lên bần bật. Nỗi ân hận tích tụ từ ban chiều như vỡ òa, gã bước vội ra khỏi chõng, quỳ sụp xuống nền đất ẩm trước mặt mẹ già. Hai giọt nước mắt lăn dài trên gò má rám nắng cày bừa “U ơi… con có tội! Con mê muội, con cứ ngỡ kiếm được mớ bạc cho con Mạch, thằng Trạch đỡ khổ, ngờ đâu suýt nữa đem cả mồ mả tổ tiên dâng cho quân cướp ngày. Nếu u không ngăn lại, con… con chính là đứa con bất hiếu làm tan nát cái nhà này!”
Nhị Hòa cũng vội vàng quỳ xuống cạnh anh trai, giọng nghẹn ngào “Con cũng có lỗi với u, với anh cả. Thấy đất vườn bị xót muối sau khi rải thử thứ phân độc ấy mà con nhát gan, không dám gắt gao can ngăn sớm, để u trăm ba mươi tuổi đầu còn phải lao tâm khổ tứ…”
Nhìn hai đứa con quỳ dưới chân, lồng ngực cụ Oanh dâng lên niềm xúc động khôn nguôi. Kiếp trước, chính cảnh chia lìa nợ nần đã xé nát mái nhà này; kiếp này, khi lòng người biết quay đầu, cội phúc gia đình mới thực sự được chắp vá. Cụ vươn bàn tay gầy guộc đầy vết chai sần, khẽ đặt lên vai Đại Lực rồi sang Nhị Hòa, khẽ đỡ hai con dậy “Biết sai mà sửa, ấy là cái gốc của đạo làm người. U không trách các con tham cảnh no ấm, chỉ răn các con nhớ lấy: lúa ngô nuôi sống đời người, còn phù hoa chỉ hại thân. Từ nay về sau, anh em phải thuận hòa, đồng lòng giữ chặt lấy năm mẫu ruộng. Có đất là còn tất cả, các con nghe rõ chưa?”
“Dạ, chúng con xin ghi lòng tạc dạ lời u!” Hai anh em đồng thanh đáp, ánh mắt kiên định nhìn nhau, xóa tan mọi khoảng cách ngột ngạt ban chiều.Cơm nước xong xuôi, đêm dần về khuya. Cơn mưa đầu thu bắt đầu rả rích rơi, từng giọt nước lạnh buốt rỏ xuống mái rạ, phả vào gian nhà đất một làn hơi ẩm buốt. Khi Đại Lực và Nhị Hòa lui về chái bếp nhóm lửa sưởi ấm nông cụ, cụ Oanh ngoắc tay gọi hai đứa cháu nội lại gần.
“Mạch nhi, Trạch nhi, lại đây với bà.”
Cụ Oanh lấy chiếc đèn bão cũ kỹ thắp sáng, bảo Thu Trạch cầm chiếc xẻng sắt nhỏ và Thu Mạch mang theo một chiếc làn tre lót rơm khô. Ba bà cháu lặng lẽ bước ra sân sau, men theo bờ rào râm bụt ướt sũng nước mưa. Đích đến là bức tường đất nện ngàn năm bao quanh nền nhà cũ hướng đông – nơi có một vết nứt dài hình trăng khuyết đã bám rêu phong qua năm tháng.
Đứng dưới chân tường đất sũng nước, cụ Oanh dừng bước, chỉ gậy trúc xuống khoảng đất thịt pha cát nằm ngay dưới vết nứt “Trạch nhi, đào đất ngay chỗ này cho bà. Đào sâu chừng ba thước, cẩn thận đừng để lưỡi xẻng nện quá mạnh.”
Thu Trạch tuy còn ngơ ngác nhưng cậu bé mười bốn tuổi rất tháo vát, không hỏi nửa lời liền xắn tay áo, cắm từng lưỡi xẻng sâu xuống nền đất bùn. Thu Mạch đứng bên cạnh nâng cao ngọn đèn bão che gió cho bà nội, mắt chăm chú dõi theo từng nhát xẻng xới tung từng tảng bùn ngai ngái mùi đất ẩm.
Được một lúc, khi hố đất đã ngập sâu chừng ba thước thì mũi xẻng sắt của Thu Trạch bỗng va phải một v*t c*ng phát ra tiếng “keng” trầm đục.
“Bà nội, có vật gì chạm vào xẻng rồi ạ!” Cậu bé reo khẽ, giọng đầy vẻ ngạc nhiên.
“Chậm tay lại, gạt đất xung quanh ra, cháu ngoan,” cụ Oanh run run dặn dò, đôi mắt đùng đục ánh lên niềm xúc động khôn xiết. Ký ức về hũ hạt giống cổ mà cha ông từng dặn dò trước khi lâm chung kiếp trước ùa về rõ mồn một.
Thu Trạch dùng hai bàn tay trần cẩn thận bới từng lớp đất sét bám chặt chung quanh. Dưới ánh đèn dầu chao nghiêng theo làn gió núi, một chiếc hũ sành màu da lươn cổ xưa, bóng loáng như đá ngọc, dần lộ ra nguyên vẹn. Thân hũ dày dặn, miệng hũ được niêm phong kín mít bằng một lớp sáp ong rừng pha tro bếp dày cộm, ngăn tuyệt đối hơi ẩm xâm nhập vào bên trong suốt bao năm tháng dãi dầu.
Hai chị em Thu Mạch và Thu Trạch cẩn thận nâng chiếc hũ sành đặt lên bậc thềm hiên khô ráo. Cụ Oanh ngồi thụp xuống bậu cửa, đôi bàn tay gầy gộc run rẩy đón lấy chiếc hũ quý giá. Cụ dùng đầu mũi dao nhỏ của Thu Trạch cẩn trọng cạy từng mảng sáp ong niêm phong nơi miệng hũ.
Lớp sáp cổ xưa vừa bung ra, nắp gốm hé mở, một luồng hương thơm thanh khiết, ngào ngạt mùi đất trời cội nguồn lập tức tỏa ra ngút ngát, xua tan đi cái lạnh lẽo của đêm mưa. Dưới ánh sáng vàng le lói của ngọn đèn bão, cụ Oanh vốc ra một nắm hạt giống Cửu Tiết Hoàng Đậu tròn mẩy, bóng bẩy như những hạt ngọc vàng óng ả, nguyên vẹn sinh khí như chỉ chờ ngày cựa mình thức giấc.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
