Chương 7: Hút Ẩm Tầng Đáy
Thạch Chấn Du đứng lặng nhìn mặt đá ẩm ướt láng bóng dưới chân, khẽ gõ đầu gậy tre vài tiếng trầm đục.
Thấy nét mặt cụ đăm chiêu, Ba Vạn lau vội những giọt mồ hôi trên trán, bước tới ngập ngừng hỏi: — Cụ Du, bốn bề vách trấu đã nện chặt rồi, sao trông cụ vẫn còn điều gì trĩu nặng trong lòng thế ạ?
Lương y Tuệ Mẫn cũng sốt ruột nhìn lớp màng ẩm lạnh đang rịn ra từ những khe đá, thở dài: — Phải đấy Chấn Du huynh. Lòng hang này mát mẻ nhưng ẩm thấp quá. Huynh gạt phắt ý định rải vôi bột xuống sàn, lão phu nghĩ mãi chưa thông. Vôi bột khử uế, háu nước có tiếng, sao huynh nhất quyết không cho rải xuống đáy hầm?
Cụ Du đưa tay vuốt chòm râu bạc, ánh mắt nhìn bạn chan chứa sự điềm đạm: — Tuệ huynh nóng lòng vì kho thuốc, lão hiểu lắm. Nhưng vôi sống gặp ẩm sẽ sôi sùng sục, bốc hơi nóng hầm hập như lò lửa, hun tan từng tảng băng. Băng tan rỉ nước thấm vào trấu. Nước dẫn hơi nóng nhanh gấp hai mươi lần không khí đứng yên, trấu mà ướt sũng thì hầm lạnh hóa thành cái chõ đồ xôi, ba mươi bồ dược liệu tươi của chúng ta sẽ úng nát trong chớp mắt.
Tuệ Mẫn rùng mình kinh hãi, hai tay run run: — Lão phu vẫn nhớ lời huynh dặn vôi sống tỏa nhiệt, nhưng nếu tuyệt đối không được dùng vôi bột, ta lấy gì hút kiệt chỗ ẩm ướt này mà không sinh nhiệt hở huynh?
Cụ Du mỉm cười ôn tồn quay sang Ba Vạn: — Đồ giữ lạnh ở ngay gian bếp của bà con thôi. Chú Ba cho người về xóm gom than củi khô đập vụn và tro trấu phơi kiệt nắng mang lên đây cho lão.
Ba Vạn chớp mắt ngạc nhiên: — Than củi với tro trấu ư cụ? Hai thứ ấy ngăn nổi nước rịn từ đá ra sao cụ?
— Ngăn tốt lắm chú à. Than củi xốp rỗng háu nước, tro trấu phơi nỏ nắng hè hút ẩm ráo riết. Trộn đều hai thứ rải khắp nền đá, chúng sẽ m*t sạch nước rịn ra mà không sinh chút hơi nóng nào. Nước rỉ nhiều đã có rãnh sỏi dắt lối ra hố tiêu tự nhiên, đáy hầm của ta sẽ khô cong như đất tháng Giêng.
Ba Vạn hiểu ra đầu đuôi, mừng rỡ chắp tay: — Dạ, con rõ rồi! Trong làng nhà nào cũng sẵn than củi và tro trấu nỏ. Con xuống giục anh em gánh lên ngay!
Ba Vạn cùng tráng đinh thoăn thoắt xuống núi. Chẳng mấy chốc, tiếng bước chân rậm rịch vang lên đầu dốc. Từng gùi than củi khô giòn cùng hàng chục thúng tro trấu phơi kiệt nắng được bà con hối hả gánh vào hang. Mùi khói bếp ngai ngái hòa vào lòng hang mát mẻ, thân thương lạ kỳ.
Tiểu Thạch tay cầm chiếc vồ gỗ nhỏ, nhanh nhảu chạy lại: — Ông nội ơi, than củi giòn tan lắm! Cháu đập vụn giúp các chú nhé?
Cụ Du xoa đầu đứa cháu nuôi, ánh mắt ngập tràn thương yêu: — Ngoan lắm Thạch nhi. Cháu bảo các chú đập than vụn cỡ ngón tay cái thôi, đừng giã nát kẻo bết dính. Đập xong thì trộn lẫn với tro trấu cho thật đều tay.
Dưới sự chỉ dẫn của cụ Du, than củi trộn tro trấu được rải đều khắp nền hang, san phẳng và đầm nhẹ tay cho dày đúng nửa thước. Màng nước rịn từ kẽ đá vừa chạm lớp than tro liền bị m*t cạn khô khốc. Nền hang khô ráo như một tấm thảm. Nước rỉ ở mép vách ngấm xuống rãnh sỏi cuội, róc rách chảy thoát ra ngoài hố tiêu tự nhiên.— Đáy hầm khô ráo rồi cụ Du ơi! — Mấy tráng đinh reo khẽ.
— Tốt lắm, — Cụ Du gật đầu. — Giờ các chú khiêng giát tre vào đi.
Ba Vạn cùng anh em vác những tấm giát tre vót nhẵn bóng, đặt vững chãi lên các trụ đá cuội kê sẵn bên trên lớp than tro và rãnh sỏi, nâng cao cách mặt sàn đúng một thước.
Cụ Du bước tới dồn sức nhấn thử. Mặt tre đan chắc nịch, không hề lay chuyển. Cụ mỉm cười: — Kê cao một thước thế này, luồng khí lạnh bên trong sẽ luôn lưu thông khô ráo. Dược liệu và băng tuyết nằm trên giát tre sẽ tuyệt đối cách ly khỏi hơi ẩm dưới sàn.
Lương y Tuệ Mẫn ngắm gian buồng cách nhiệt với vách trấu dày hai thước và sàn giát tre cao ráo mà tấm tắc khen ngợi. Song khi nhìn ra vòm cửa động rộng hoác đang hắt vào luồng gió hè oi nồng, nét mặt ông lại thoáng vẻ âu lo: — Chấn Du huynh, bên trong kể như đã khô ráo muôn phần. Nhưng cửa động thênh thang thế này, mỗi bận mở ra bốc thuốc, gió nóng thốc vào thì hơi lạnh giữ sao cho xuể?
Cụ Du chống gậy chậm rãi bước ra lối dẫn vào hầm, ôn tồn bảo: — Tuệ huynh lo rất chí lý. Khí lạnh nặng hơn khí nóng, luôn chìm sát đất và chực trào ra ngoài như nước chảy chỗ trũng. Nếu chỉ làm một cửa đơn, mỗi lần mở then thì hơi lạnh ùa ra hết, hơi nóng tràn vào hun tan băng. Bởi thế, ta phải dựng cửa đệm hai lớp so le theo hình chữ Z.
Cụ Du cầm cành cây vạch trên nền đất từng nét dứt khoát: — Dùng liếp tre nhồi trấu dựng buồng đệm nhỏ trước cửa hầm. Cửa ngoài mở một hướng, qua buồng đệm mới tới cửa trong. Vào thì đóng cửa ngoài rồi mới mở cửa trong; ra thì khép kín cửa trong rồi mới hé cửa ngoài. Gió nóng ngoài hẻm núi bị chặn đứng, mà hơi lạnh nặng trịch dưới đáy hang cũng không trào ra được.
Tuệ Mẫn cùng Ba Vạn gật gù thán phục. Dưới sự điều phối của cụ Du, liếp tre nhồi trấu nhanh chóng được dựng lên, then cài gỗ lim lắp cẩn thận, biến lối vào thành buồng đệm chữ Z kín gió tuyệt đối.
Khi then cài cuối cùng được tra vào ổ, màn đêm đã phủ kín núi rừng Lam Sơn. Trăng non đầu tháng treo lơ lửng trên đỉnh Bạch Nhạn, rọi những vệt sáng bàng bạc xuống vòm đá vôi cổ kính.
Trong Động Thạch Lương, gian hầm lạnh dã chiến đã hoàn tất, vững chãi tựa một pháo đài trú ẩn giữa mùa lửa. Bà con và tráng đinh quây quần quanh cụ Du, ai nấy đều nín thở trong niềm hồi hộp xen lẫn hy vọng thiết tha.
Hầm đã sẵn sàng, nhưng thử thách sinh tử thực sự giờ mới bắt đầu. Giữa đêm đen tĩnh mịch, liệu ba mươi bồ thảo dược tươi có kịp chuyển lên hang an toàn, và liệu những khối băng tuyết trên đỉnh Bạch Nhạn có vượt qua nổi vòng vây canh gác trùng điệp của Mã Báo để về đến nơi này?
Cụ Du siết chặt chiếc gậy tre trong tay, hướng ánh nhìn trầm tĩnh về phía đỉnh núi cao mờ mịt trong sương đêm.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
