Chương 21: Lam Sơn Ủ Trấu Pháp

Gió thu hiu hiu thổi qua gò đất cao, cuốn theo hương bùn non ngai ngái cùng mùi mạ mới thơm nồng. Nhìn bọc vải gai đựng đầy hạt giống lúa thơm cùng những củ thuốc quý đặt ngay ngắn trên phiến đá, lại nhìn ánh mắt tha thiết của Ba Vạn và Tuệ Mẫn, Thạch Chấn Du khẽ vuốt chòm râu bạc, mỉm cười đôn hậu.

Cụ cúi người, vươn đôi tay gầy gộc thô ráp đỡ lấy bọc vải gai, cẩn thận nắn nhẹ từng dải hạt mẩy tròn rồi cất giọng ôn tồn: — Chú Ba Vạn với Tuệ huynh cứ yên lòng. Hạt lúa củ giống là gốc rễ của sự sống, nuôi người qua cơn đói, cứu người qua cơn đau. Trời đất sinh ra hạt thóc mầm cây, lại ban cho cái vỏ trấu chở che. Lão giữ kín làm chi, có cách gì giúp bà con ấm no thì lão dốc hết tấc dạ truyền lại.

Nghe lời cụ, Ba Vạn mừng rỡ vội đỡ lấy bọc giống rồi cùng Tuệ Mẫn dìu cụ đứng dậy. Tiểu Thạch lanh lẹ nhặt chiếc gậy tre đưa cho ông nội, ríu rít bước bên cạnh. Cả đoàn người thong thả men theo bờ mương rợp bóng tre, trở về chái sau Tuệ Ân Đường.

Dưới bóng râm mát rượi của giàn mướp trổ hoa vàng, chiếc bàn gỗ mộc mạc được lau sạch bóng. Cụ Du ngồi trên chiếc ghế tre, đón lấy nghiên mực cùng thếp giấy bản màu vàng ngà mà Tiểu Thạch vừa cẩn thận mài sẵn. Chấm ngọn bút lông vào nghiên mực đen lánh, cụ nắn nót viết từng nét chân phương lên trang đầu: “Lam Sơn ủ trấu pháp”.

Ba Vạn cùng mấy tráng đinh quây quần trên những chiếc đôn gỗ, im phăng phắc dõi theo. Đợi nét mực khô se, cụ Du đặt bút xuống gác gốm, cất giọng điềm đạm: — Các chú phải tường tận cái lẽ này: hạt giống hay củ thuốc cất vào bồ vại thường hỏng bởi hai mối họa. Mùa đông thì gió bấc căm căm làm buốt cóng mầm non, mùa xuân lại gặp tiết nồm ẩm xông lên làm mốc meo thối rữa, ấy là chưa kể sâu bọ mọt thóc đục khoét. Cái vỏ trấu xốp nhẹ, bên trong cong khum ôm lấy từng túi khí tĩnh lặng. Trấu nén chặt lại sẽ hóa thành tấm áo bông vô hình, mùa đông ngăn hơi giá từ ngoài ngấm vào, mùa nồm chặn đứng khí ẩm xâm nhập. Hơn nữa, cạnh trấu sắc ráp, sâu mọt ngửi thấy mùi vỏ bổi khô là tuyệt đường luồn lách.

Tuệ Mẫn vuốt chòm râu hoa râm, gật đầu tấm tắc: — Hóa ra cái vỏ trấu phế phẩm bên cối xay lại chứa đựng đạo lý che chở sâu xa đến vậy!

— Trăm nghe không bằng mắt thấy, — cụ Du mỉm cười rồi ngoắc tay gọi đứa cháu nuôi. — Thạch nhi, cháu mang mấy chiếc cóng sành lại đây, làm từng bước cho các chú cùng xem.

— Dạ, cháu làm ngay đây ông nội! — Tiểu Thạch vui vẻ đáp lời.

Cậu bé mười ba tuổi nhanh nhẹn xắn cao ống tay áo nâu chàm, bê chiếc cóng sành da lươn miệng rộng đã phơi kiệt nắng đặt giữa manh chiếu cói. Dưới sự dõi mắt tỉ mỉ của cụ Du, Tiểu Thạch dùng gáo dừa múc lớp tro bếp khô rải đều xuống đáy cóng, dày chừng hai đốt ngón tay.

— Đáy lót tro bếp khô để hút kiệt hơi ẩm, — cụ Du khẽ nhắc, giọng trầm ấm chỉ dẫn.Tiểu Thạch gật đầu hiểu ý, đặt một vuông vải gai mỏng lên trên lớp tro, đoạn nhẹ nhàng xếp bọc hạt giống lúa mới cùng những củ giống mập mạp vào chính giữa lòng cóng. Kế đó, cậu bé vốc từng vốc trấu khô vàng óng đã quạt sạch bụi đổ vào xung quanh. Đôi bàn tay nhỏ nhắn thoăn thoắt chèn trấu, dùng lòng bàn tay nén chặt từng lớp một theo hình tròn quanh thành cóng. Lớp trấu bao bọc quanh bọc giống dày đúng một gang tay, chặt chẽ mà không làm dập nát hạt mầm. Sau cùng, Tiểu Thạch phủ thêm một lớp trấu dày lên mặt trên, đậy nắp bện bằng rơm nẹp nứa rồi dùng dây đay buộc ghì miệng cóng lại thật khít.

Thao tác của cậu bé thuần thục, đâu ra đấy, không thừa một cử chỉ nào. Cụ Du khẽ gật đầu, trong lòng dâng lên niềm an ủi vô bờ. Đứa cháu côi cút ngày nào giờ đây đã nắm vững kỹ nghệ ủ trấu giữ ấm ngăn ẩm, trở thành người trợ thủ đắc lực kế tục tri thức dân dã này.

Mấy tráng đinh đứng xem trầm trồ không ngớt: — Dễ hiểu, dễ làm quá! Thế này thì bồ thóc giống nhà con qua mùa đông dứt khoát không sợ buốt rét hay chuột bọ nữa rồi!

Đang lúc không khí chái nhà rộn rã tiếng cười, bỗng ngoài cổng thôn có tiếng vó ngựa dồn dập vang lên. Một viên sai phái mặc áo nẹp đỏ của nha môn tế ngựa xông thẳng vào sân Tuệ Ân Đường, trên tay giơ cao ống đồng bọc lụa vàng: — Có công văn truyền hịch của Khâm sai đại nhân!

Bà con xóm giềng cùng lương y Tuệ Mẫn vội vã ùa ra sân kho. Viên sai phái mở công văn, cao giọng tuyên đọc chiếu hịch: Khâm sai tuần thú sau khi thụ lý án văn và chứng cứ xác thực, đã công khai tuyên án tại công đường huyện nha. Gian thương Mã Báo phạm tội thao túng giá thuốc, cấu kết quan sai đầu cơ trục lợi thiên tai, lại sai người phóng hỏa kho thuốc công tế, bị xử tội lưu đày viễn xứ ba ngàn dặm, tịch thu toàn bộ gia sản phi pháp sung công quỹ cứu tế. Tên cựu Huyện úy lạm quyền ức h**p dân lành bị bãi chức cách trật, tước đoạt ấn tín và giải về kinh sư chờ ngày sung quân. Đỉnh núi Bạch Nhạn cùng mọi hố băng tuyết vĩnh viễn trả lại quyền khai thác cho dân chúng. Mối họa nhũng nhiễu bao lâu nay ở thung lũng Lam Sơn đã hoàn toàn bị dẹp bỏ.

Tiếng reo hò rền vang khắp sân kho. Tuệ Mẫn rưng rưng nước mắt chắp tay vái tạ trời đất, Ba Vạn siết chặt nắm đấm hả dạ. Cụ Du đứng tựa gậy bên hiên, cảm thấy tảng đá đè nặng bấy lâu nay đã trút bỏ sạch trơn. Ám ảnh gian thương cùng nha lại lộng hành từng đe dọa sinh mạng xóm làng giờ đây đã bị trừ tận gốc.

Chiều buông, ánh hoàng hôn ấm áp nhuộm đỏ đỉnh núi Bạch Nhạn. Ba Vạn cùng cánh tráng đinh cẩn thận nâng niu từng cóng giống đã ủ trấu đặt lên quang gánh, hân hoan đem về các thôn xóm cất trữ trên gác bếp khô ráo.

Cụ Du chống gậy tre đứng bên hiên chái sau, Tiểu Thạch ngoan ngoãn đứng bên đỡ lấy khuỷu tay cụ. Dưới chân thung lũng, từng làn khói lam chiều bắt đầu bay lên từ những nếp nhà tranh ven núi, quyện vào mùi thơm lừng của nồi cơm gạo mới và tiếng cười đùa rộn rã của lũ trẻ. Tri thức giữ giống, ủ trấu đã bắt đầu bén rễ sâu vào nếp sống xóm làng.

Gió thu mơn man tà áo vải thô bạc màu, ánh mắt cụ Du hướng về phía cánh đồng mạ non xanh ngát đang rung rinh đón nắng chiều, chờ đón ngày những hạt giống được ủ trấu chở che sẽ đơm bông trĩu hạt thành vụ gặt ấm no.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.