Chương 20: Khói Lò Lam Thủy Bất Diệt
Gió bấc ràn rạt thổi trên mặt nước, cuốn theo hơi lạnh se sắt phả vào hai gò má nhăn nheo của cụ Dưỡng Hữu Bằng. Nghe tiếng bước chân gấp gáp của Thắng bước tới mạn thuyền, cụ không quay đầu lại ngay mà vẫn dõi mắt nhìn theo dải khói lam chiều đang quyện tròn trên rặng tre Cổ Bằng. Bàn tay gầy guộc nổi đầy đồi mồi của cụ khẽ vỗ lên bờ vai vững chãi của đứa chắt họ — Con nhìn xem, khói rơm rạ của xóm Lò làng mình đó. Mấy chục năm bom đạn cày xới, dòng sông Lam ni chưa từng cạn, mà khói lò Cổ Bằng cũng nỏ khi mô chịu tắt. Giữ được mười lăm sào đất mẹ, giữ được mẻ men tro ni, lòng già này mới nhẹ nhõm mà nhắm mắt được.
Thắng đứng sát bên cụ, giọng nghẹn lại — Ơn cụ khai tâm rèn giũa, con mới hiểu được cái đạo của đất và lửa. Nếu không có cụ đứng mũi chịu sào, lũ chúng con đã bị quân gian thương xỏ mũi, dâng đất tổ cho người ta rồi.
Cụ Bằng mỉm cười, chòm râu cước rung nhẹ trong gió chiều — Đất bãi không phụ lòng người ngay thật mô con. Mau chuẩn bị, thuyền sắp ghé bến rồi!
Mũi thuyền nan vừa chạm vào triền cát mịn dưới chân dốc bến Lò, tiếng trống khẩu bỗng gióng lên thùng thình dồn dập. Khắp ngõ xóm cờ đỏ dong mở rợp bóng tre, hàng trăm bà con xóm Lò ùa ra tận mép nước. Tiếng hò reo vang dội mặt sông khi người ta nhìn thấy chiếc cúp vàng triển lãm cùng tập hồ sơ công văn bảo hộ đất đai trên tay Trưởng thôn Mười. Những người thợ gốm già mắt rơm rớm lệ, lớp thanh niên trai tráng xúm lại nâng chiếc thuyền nan lên bờ cát. Làng nghề trăm năm như vỡ òa trong men say chiến thắng sau những ngày dài nghẹt thở trước bóng ma phá sản.
Đoàn người rước cúp vàng và sọt gốm men tro men theo con đường đất đỏ rực hoa dong riềng, tiến thẳng vào sân nhà thờ tổ họ Dưỡng. Gian thờ cổ kính nghi ngút khói trầm, đôi câu đối sơn son thếp vàng như bừng sáng trong ánh nến lung linh. Trên hương án, chiếc đĩa men tro tam hợp cổ được cụ Bằng cẩn trọng đặt ngay ngắn chính giữa, bên cạnh là chén rượu trắng ngát hương nếp mới.
Trưởng thôn Nguyễn Văn Mười bước lên trước bàn thờ, bàn tay cụt ngón trỏ run run nâng chiếc chén men rạn vảy cá rót đầy rượu thơm dâng lên tiên tổ. Cụ Bằng chống chiếc gậy tre đứng sừng sững bên cạnh, giọng cụ vang rền, đanh thép tựa tiếng chuông đồng vọng giữa gian từ đường — Kính lạy liệt tổ liệt tông họ Dưỡng! Nhờ hồng phúc cha ông phù hộ, mảnh đất mười lăm sào bãi bồi cùng ngọn lửa men tro củi đã được cháu con đồng lòng gìn giữ nguyên vẹn. Hôm nay, trước anh linh tiên tổ và toàn thể dân làng, lão già này tuyên bố: kẻ nghịch tử Dưỡng Hữu Trọng vì hám lợi mà rước men chì độc hại về đầu độc đồng bào, toan cướp sạch đất mẹ dâng cho gian thương, đã bị pháp luật nghiêm trị. Nay chính thức xóa tên thằng nghịch tôn khỏi gia phả họ Dưỡng, vĩnh viễn tuyệt giao, không cho bước chân vào ngưỡng cửa nhà thờ tổ nữa!
Cụ Bằng dứt lời, cả gian từ đường lặng ngắt như tờ, chỉ có tiếng nổ lách tách của tàn hương rơi xuống đỉnh đồng. Ai nấy đều thấu hiểu sự nghiêm minh và lòng cương trực của bậc đại thụ làng nghề.Cụ Bằng quay sang nhìn đám thợ trẻ đang đứng chật ngoài sân. Ánh mắt nghiêm nghị của cụ dừng lại trên gương mặt cương nghị, rám nắng phù sa của Dưỡng Văn Thắng — Thắng! Bước lên đây con!
Thắng bước vào gian giữa, hai đầu gối quỳ rạp xuống nền gạch Bát Tràng rêu phong. Cụ Bằng tiến lại án thư, hai tay nâng cuốn sổ tay giấy dó "Hỏa Thổ Hợp Nhất" đã ngả màu nâu sẫm, cùng chiếc bàn xoay bằng gỗ lim tổ truyền nhẵn bóng qua bao đời vuốt gốm. Cụ đặt cuốn bí truyền và chiếc bàn xoay vào đôi tay run rẩy của Thắng, giọng cụ trầm xuống đầy tha thiết — Tám mươi năm qua, bàn xoay ni và cuốn sổ ni là mạng sống của ta. Nay ta trao trọn cho con. Con đã vượt qua thử thách của lửa lò, thấu suốt cái tâm của người thợ. Từ nay, con là người giữ lửa, dẫn dắt thợ trẻ Cổ Bằng tiếp nối nghiệp tổ. Nhớ lấy, làm gốm là làm người, men tro có trong sạch thì lòng người mới ngay thẳng được!
Thắng áp chiếc bàn xoay gỗ lim vào lồng ngực, trán chạm xuống mặt đất ba lạy trước bàn thờ tổ và cụ Bằng. Khi ngẩng đầu lên, đôi mắt cậu sáng quắc như ánh than đượm trong lò nung — Con xin thề trước anh linh tiên tổ và cụ cố! Đời này kiếp này, con nguyện lấy men tro củi làm gốc, giữ trọn lương tâm người thợ gốm Cổ Bằng. Dù bả vinh hoa hay bạc vạn cám dỗ, con kiên quyết không bao giờ để men độc hại làm hoen ố đất mẹ và dòng sông Lam!
Những tiếng vỗ tay rào rào của đám thợ trẻ và bà con xóm Lò vang lên rộn rã, át cả tiếng gió mùa đông bắc ngoài rặng tre. Chú Mười vỗ vai Thắng, nụ cười rạng rỡ nở trên gương mặt dạn dày sương gió.
Xuân năm 1992 gõ cửa xóm Lò bằng những đợt mưa phùn ấm áp và những mầm tràm non xanh biếc nhú lên dọc triền bãi bồi Côn Bằng. Hơi thở Đổi Mới lan tỏa khắp làng quê xứ Nghệ, mang theo sinh khí tràn trề của những vận hội mới mẻ. Đơn hàng mười vạn sản phẩm xuất khẩu sang Nhật Bản như dòng nước mát tưới tắm vào mạch sống của làng gốm.
Sáng mùng năm Tết, cụ Bằng khoác chiếc áo nâu sồng đơm cúc vải, tay chống gậy tre thong thả bước ra dải bãi bồi ven sông Lam. Đứng trên triền dốc cao nhìn xuống, lòng cụ dâng lên một niềm thanh thản, khoan khoái khôn cùng. Dưới bàn tay chỉ đạo của Thắng và sự chung sức của dân làng, ba chiếc lò bầu năm gian mới toanh đã được dựng xong vững chãi dọc bờ sông. Tiếng cười nói rộn rã hòa cùng tiếng nện đất thình thịch, tiếng bàn xoay gỗ lim quay tít mù bên những đôi tay thoăn thoắt nhào nặn từng tảng đất sét trắng ngà.
Phía xa xa, từ đỉnh các vòm lò bầu san sát, từng cuộn khói men tro màu lam biếc lại cuồn cuộn bốc lên, bay cao, vươn dài hòa vào mây trời lộng gió của dòng Lam bất diệt. Làng gốm Cổ Bằng đã thực sự hồi sinh, vững chãi và rạng rỡ muôn đời.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
