Chương 17: Sáu Ngày Đỏ Lửa
Từ cửa nách buồng chứa nguyên liệu bước ra, Thạch Minh Khê bưng trên tay chiếc âu đất đựng đầy tro gai mịn. Dưới ánh trăng lạnh buốt đang nhạt dần trên đỉnh Vọng Thiên Nhai, cô thấy bóng lưng còng của Dật Cương Phúc vẫn đứng lặng giữa sân. Hai hàng khuôn đúc bằng đất sét trộn tro gai nằm song song như hai vệt đá xám, há miệng chờ đợi. Cánh tay phải của ông già vẫn nép chặt trước ngực bởi dải vải gai thô vắt qua cổ, nhưng bàn tay trái chai sần thì không ngừng sờ nắn mép từng chiếc khuôn, cẩn thận kiểm tra từng thớ đất nện.
“Dật lão thợ lò, sương xuống buốt lắm rồi,” Minh Khê bước lại gần, khẽ lên tiếng. “Tro gai lọc mịn của ba bao mới tôi đã chuẩn bị xong cả rồi.”
Dật Cương Phúc quay lại. Đôi mắt màu hổ phách của ông phản chiếu ánh sáng mờ ảo từ màn chắn Bát Phương Tỏa Linh Trận giăng kín quanh viện lò. Tấm ngọc bài Chưởng Môn đã đem lại cho họ sự bình yên trước những con mắt dòm ngó từ bên ngoài, nhưng Minh Khê hiểu rõ: thời hạn sáu ngày mà ông cam đoan với Chưởng Môn Nhân mới là lưỡi dao treo ngược trên đầu.
“Nhóm lửa đi,” ông chỉ nói ngắn gọn, giọng khàn đặc nhưng rành rọt. “Khơi cả lò phụ.”
Tiếng củi thân xương rồng phơi khô ba mùa rền lên lách tách khi bén lửa. Lò Xương Rồng và lò phụ của viện lò cùng lúc đỏ rực, nuốt trọn sương đêm. Không khí lạnh ngắt trên đỉnh núi bị hơi nóng xua bạt trong chớp mắt. Minh Khê nhìn người thợ già thoăn thoắt dùng tay trái chọn từng thanh củi khô quẳng vào cửa lò. Bàn tay ông dường như nhớ rõ vị trí từng thớ gỗ nứt, biết khúc củi nào cháy đượm, khúc nào giữ than lâu mà không bốc khói đen.
Nhưng khó khăn ập đến ngay ở mẻ kính đôi đầu tiên vào cuối ngày thứ nhất.
Để kịp tiến độ mười tám phiến kính, hai buồng lò phải vận hành cùng lúc. Khi khối linh sa lỏng của mẻ nung đôi được trút ra bàn tôi, Minh Khê kinh hãi phát hiện bề mặt hai phiến kính thô lồi lõm dị thường, rỗ đầy những bọt khí li ti đục ngầu như mắt cá chết. Buồng gió của lò phụ hẹp hơn Lò Xương Rồng ba tấc, luồng nhiệt phân bổ không đều đã bẻ gãy nhịp hòa tan của khoáng sa.
Minh Khê tái mặt, đánh rơi cả que cời than “Hỏng... hỏng mất cả hai phiến rồi ông Phúc! Sáu ngày làm sao bù lại kịp?”
Nỗi hoảng sợ đè nặng lồng ngực cô bé. Nhưng Dật Cương Phúc không hề bực dọc. Ông không một lời trách cứ, chỉ lẳng lặng cầm chiếc xẻng sắt gõ mạnh một tiếng “keng” dứt khoát. Hai khối kính rỗ vỡ vụn, rơi rào rạo xuống máng xỉ than bên dưới.
“Kính quan trắc sai một phần vạn thì nổ trận, rỗ một bọt khí thì tan xương,” ông bình thản gạt vụn xỉ, kéo Minh Khê lại sát vách lò phụ. “Lại đây. Nhìn vào van thông gió.”
Di chứng từ lần tu luyện pháp âm thất bại năm mười lăm tuổi khiến đôi tai Minh Khê nhạy cảm kỳ lạ với mọi biến chuyển của âm thanh. Nghe lời ông dặn, cô nhắm mắt lại, nén nỗi run rẩy, ghé tai cách lớp gạch chịu nhiệt nửa thước. Giữa tiếng lửa gầm réo hỗn loạn, thính giác bén nhạy của cô lập tức bắt được một tiếng rít mảnh và sắc nhọn như mũi kim chọc vào màng nhĩ ở góc vách phía tây.
“Nghe thấy tiếng rít chưa?” Dật Cương Phúc hỏi, tay vẫn giữ thanh sắt chèn cửa gió.“Tôi nghe thấy rồi! Tiếng rít nghẽn lại ở van thoát khí bên trái!”
“Tốt. Đó là bọt khí bị ép chặt vì gió hút không đều,” giọng ông trầm ấm bên tai cô. “Dùng kìm sắt nới viên gạch chịu nhiệt ra nửa tấc. Khi nào tiếng rít nhọn biến thành tiếng ù trầm và đều như tiếng gió qua hẻm đá, lúc đó mức nhiệt của hai lò mới thật sự hòa làm một.”
Minh Khê làm theo răm rắp. Từng tiếng gõ kìm chuẩn xác làm viên gạch xê dịch. Đúng nửa khắc sau, tiếng rít chói tai tan biến, nhường chỗ cho một tiếng ù trầm hùng, ngân dài và vững chãi, hòa nhịp hoàn hảo với tiếng thở quen thuộc của Lò Xương Rồng.
Từ khoảnh khắc ấy, viện lò biến thành chiến trường thầm lặng của hai thầy trò.
Dật Cương Phúc bị chấn thương bả vai phải nên không thể vung tay mạnh. Ông tự chế bằng cách tì thân ống thổi lên một giá đỡ bằng gỗ lim bọc sắt, chỉ dùng bàn tay trái chai sần để xoay tròn cán ống với độ chính xác đến kinh ngạc. Minh Khê đứng sát bên cạnh, hít sâu một hơi từ đáy lồng ngực, ghé miệng vào đầu ống thổi. Cô lấy hơi dài, chậm rãi điều tiết luồng khí theo từng nhịp gõ ngón tay của người thợ già. Khối linh sa lỏng đỏ rực từ từ phình to, xoay tròn theo từng vòng quay, bắt lấy ngọn lửa trắng vàng mà ánh lên sắc lam thuần khiết.
Một phiến. Hai phiến. Rồi năm phiến.
Thời gian trôi đi hun hút trong màn khói lưu huỳnh và bụi tro xương rồng cay xè mắt. Suốt bốn ngày bốn đêm liên tục, Minh Khê chưa từng thấy Dật Cương Phúc chợp mắt lấy một canh giờ trọn vẹn. Lưng ông còng rạp xuống bên cửa lò, mồ hôi túa ra như tắm làm chiếc áo gai thô ướt sũng rồi lại bị hơi nóng hầm hập sấy khô cứng, đóng thành những vệt muối trắng xóa sau lưng. Bả vai phải của ông thỉnh thoảng giật giật đau đớn, nhưng mỗi thanh củi xương rồng ném vào lò vẫn chuẩn xác đến từng phân.
Đôi bàn tay của Minh Khê cũng không còn lành lặn. Những bọng nước phồng rộp từ trước vỡ toét ra, máu tươi rỉ thấm đẫm lớp vải bọc cán thổi nóng rực. Mỗi lần miết tay hay lấy hơi, da thịt non tơ lại nhói buốt tận tim gan. Nhiều lúc hai chân cô run rẩy, mắt hoa đi vì kiệt sức. Nhưng mỗi khi ngước nhìn bóng lưng cô độc của ông lão sáu mươi sáu tuổi đang kiên cường che chắn trước miệng lò đỏ rực, Minh Khê lại cắn chặt môi đến bật máu. Cô không kêu than một tiếng, chỉ lặng lẽ xé thêm dải vải gai sạch quấn chặt lấy các ngón tay rớm máu rồi lại tiếp tục bước tới, cầm ống thổi, gạt than, canh lửa.
Đến cuối ngày thứ tư, khi ráng chiều đỏ ối buông xuống đỉnh Vọng Thiên Nhai, tiếng ù trong hai buồng lò dịu dần.
Phiến kính thứ mười bốn vừa hoàn thành được hai người cẩn trọng trượt vào hầm ủ tro ấm để tôi nhiệt từ từ. Dưới lớp tro mịn giữ ấm, mười bốn phiến kính nằm ngay ngắn, tỏa ra ánh lam dịu mát và trong suốt tuyệt đối, không vướng một tì vết nhỏ.
Chỉ còn bốn phiến kính nữa là hoàn tất.
Giữa lúc Minh Khê bưng bát nước trà khô đưa cho Dật Cương Phúc, chợt một luồng gió lạnh từ chân vách đá thổi thốc vào khoảng sân. Một con linh điệp màu nâu sẫm—loại bướm dẫn đường bằng hương thảo quen thuộc của Dược Thảo Viện—chao nghiêng đáp xuống bờ tường hoa Lò Nung Viện. Nó không mang theo thư giấy, mà chạm nhẹ vào bát nước rồi tan biến thành một làn khói ngai ngái mùi rễ tử đằng khô. Làn khói ngưng tụ lại thành hình một nhánh cỏ thắt nút ba vòng lơ lửng trong không trung trước mắt hai người.
Minh Khê nhận ra ngay ám hiệu khẩn cấp mà Tống Ngọc Hành từng dặn dò—nhánh cỏ thắt nút ba vòng chính là mật mã chỉ phân đường kho riêng của Lương Tư Mặc phía sườn núi phía Tây vừa xảy ra biến cố dị thường.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
