Chương 14: Xem Cảnh Đầm Lầy Thấu Lòng Dân

Nghe câu hỏi đanh thép của khách họ Hà dưới ánh đèn dầu leo lét, Lão Chước khẽ nhếch khóe môi, hàm răng đen nhánh hạt na lấp lóa một nét cười thâm trầm. Lão thong thả nâng bát trà mộc đã nguội bớt, nhấp một ngụm nhỏ rồi từ tốn đáp: — Bác tính xem, loài cáo già khi tha gà bao giờ cũng giấu đuôi, nhưng mỡ gà dính mép thì chùi sao cho sạch? Giấy trắng mực đen chúng cất kỹ nơi đáy rương khóa sắt, há dễ để kẻ ngoài sờ tới. Nhưng củ khoai vùi dưới tro nóng ắt có ngày bốc khói, cái kim trong bọc lâu ngày ắt lòi ra. Bần dân này dẫu chỉ có khúc gỗ rỗng gõ việc làng, nhưng tai mắt chốn điền dã chẳng lọt một con sâu róm. Chỉ cần chờ đúng lúc giăng lưới, ắt tóm trọn cả mẻ cá to.

Khách họ Hà nhìn xoáy vào ánh mắt tinh nhanh của lão mõ già, khẽ gật đầu không nói thêm, chỉ lặng lẽ nhấp cạn ngụm trà đậm vị phù sa.

Sáng hôm sau, khi vạt sương sớm lãng đãng trên mặt sông Đáy còn chưa kịp tan, tiếng gà le te gáy dồn nơi đầu ngõ đã đánh thức xóm nghèo. Lão Chước xách chiếc mõ gỗ sung hình con cá ngáp ngoác miệng, tay cầm chiếc dùi gỗ ổi bóng lộn, niềm nở ngỏ lời mời người khách buôn họ Hà cùng rảo bước ra ngoài ngắm nhìn dải đất bãi bồi phù sa trù phú.

Gió sớm thổi qua rặng tre xanh nghe xào xạc như tiếng thì thầm của đất trời. Dưới đôi mắt trầm ngâm của khách họ Hà, ba mươi mẫu bãi bồi hiện lên với vẻ đẹp tươi tốt, phì nhiêu lạ thường. Từng luống ngô xanh mướt đang độ trổ cờ, những nong tằm rào rạt ăn rỗi cạnh nương dâu bạt ngàn nõn nà tơ non. Bốn mươi nóc nhà tranh nép mình bình yên bên bờ lũy, khói bếp sớm quyện vào sương mù tạo nên bức tranh điền dã thanh bình.

— Đất lành chim đậu đấy, bác Hà ạ! — Lão Chước đưa tay chỉ ra doi cát ngoài xa, giọng bùi ngùi. — Ba mươi năm trước, nơi này chỉ là bãi lau sậy hoang vu, nước lũ sông Đáy đỏ ngầu mỗi mùa ngập đến tận mái rạ. Bà con xóm ngụ cư đổ biết bao công sức một nắng hai sương, cuốc từng tấc đất, quai từng đoạn bờ ngăn sóng dữ mới nên hạt lúa, bắp ngô như hôm nay. Vậy mà kẻ ăn trên ngồi trốc lại nhăm nhe nuốt trọn bãi bồi này để biến thành bến thuyền, lò gạch bốc khói cay sè.

Hai người vừa thong thả men theo lối mòn dẫn xuống xóm dưới, bỗng từ phía túp lều tranh rách nát của c* Sứt vang lên tiếng la hét chửi bới ầm ĩ hòa cùng tiếng chó sủa ran.

Lão Chước biến sắc, vội rảo bước. Ngay trước khoảng sân đất nhão nhoét, Trương tuần Đội Thẹo tay lăm lăm cây roi mây, dẫn theo ba tên tuần đinh mặt mũi bặm trợn đang hùng hổ sục sạo khắp nơi.

— Lũ chuột nhắt chúng mày! — Đội Thẹo quát tướng lên, vết sẹo dài dọc má giật giật dữ tợn. — Nhà mày còn nợ thiếu ba tiền xâu từ kỳ tế xuân, lại dám dây dưa chưa nộp tiền đặt cọc xâu mới! Hôm nay không ói tiền ra thì đừng trách gậy gỗ lim của ông không có mắt!

Mặc cho c* Sứt đau đớn ôm vết lằn cũ trên lưng van lạy, hai tên tuần đinh xông thẳng vào gian bếp xiêu vẹo, vung chân đá tung chõng tre, đập vỡ toang chiếc nồi đất kho cá vụn. Tên còn lại hung bạo giật phăng chiếc thúng úp gà, tóm chặt hai con gà mái ghẹ đang độ đẻ trứng kêu quàng quạc, rồi tiện tay xốc ngược chiếc bồ cót duy nhất góc nhà, hất tung mấy thúng thóc giống dự trữ xuống nền đất ẩm ướt đầy bùn tro.

Bà mẹ già mù lòa của c* Sứt hốt hoảng lần mò từ trong buồng bước ra, run rẩy quỳ sụp xuống van xin: — Lạy thầy Trương tuần! Mẹ con già yếu chỉ trông vào mấy bát thóc giống vụ chiêm, xin thầy mở lòng bồ tát thương lấy…

Chẳng thèm đoái hoài, Đội Thẹo vung tay áo gạt mạnh một cái. Thân hình gầy guộc của bà lão ngã nhào ra mé hiên đất cát bụi bặm, chiếc nón rách văng sang một bên.

Đứng nép dưới bóng bụi chuối sau rào, khách họ Hà siết chặt hai nắm tay trong tay áo rộng làm lớp vải chùng khẽ rung lên, quai hàm bạnh ra, ánh mắt nho nhã thường ngày bỗng bốc lên ngọn lửa giận dữ ngút ngàn. Nhưng hiểu rõ thân phận vi hành, người khách buôn cố ghìm lồng ngực phập phồng, nén giận đứng yên quan sát từng hành vi ngang ngược.

Thấy mẹ già bị xô ngã, c* Sứt gào khóc định lao vào thì Lão Chước đã bước phắt ra giữa sân.“Cốc… cốc… cách… cốc!”

Hồi mõ gỗ vang lên giòn giã, dồn dập và đanh gọn xé toạc bầu không khí ức h**p. Lão Chước đứng chắp tay sau lưng, nheo đôi mắt hạt đỗ nom tỉnh queo, cất giọng tưng tửng: — Ô kìa! Bác Trương tuần đại giá quang lâm tệ xá, bắt gà xốc thóc rộn ràng như quân binh dẹp loạn thảo khấu thế này! Làng Trúc Động ta từ thuở khai hoang tới nay, dễ thường mới có một ông Trương tuần oai phong lẫm liệt, chưa đỗ ông nghè đã vội đe hàng tổng đấy nhỉ!

Đội Thẹo giật thót, quay phắt lại thấy lão mõ già liền hầm hầm chĩa roi mây: — Thằng Chước mõ! Chớ có giở trò bẻ chữ khua mõ nhảm nhí! Bố con tao đi thi hành công vụ thu xâu cho làng, mày dám cản trở à?

Lão Chước bật cười khẩy, bước tới đỡ mẹ c* Sứt đứng dậy, đoạn quay sang nhìn thẳng vào mặt tên trương tuần: — Bác nói chữ “công vụ” nghe sang tai quá! Thường dân chỉ biết chữ “tuần” là tuần phòng canh giữ cho xóm làng yên ổn, chứ có ai ngờ chữ “tuần” của bác lại là tuần tự đè đầu cưỡng đoạt, cướp gà hất thóc của kẻ bần hàn? Trát đỏ của quan huyện Bùi Thế Nghiêm mới dán cột đình hôm qua, chữ son còn ướt, định hạn rõ ràng là trước giờ Ngọ ngày rằm trăng tròn. Nay mới mười hai, còn những ba ngày nữa, cớ sao Trương tuần đã vội vã dẫn quân đi cướp ngày? Lẽ nào lệnh của quan phụ mẫu huyện đường bị bác coi như mớ giẻ rách, muốn bóp méo lúc nào thì bóp méo?

Bà con lối xóm chung quanh nghe tiếng mõ rền đã ùa tới vây kín rào tre. Nghe Lão Chước viện đến trát quan huyện, đám trai tráng xóm bãi bồi lập tức siết chặt đòn gánh trong tay, mắt nhìn lũ tay sai trừng trừng, đồng thanh cất tiếng phụ họa mỉa mai.

Bị dồn vào thế đuối lý trước đám đông phẫn nộ, Đội Thẹo mặt đỏ gay như gấc chín. Hắn giật giật khóe miệng, hậm hực ném trả đôi gà xuống sân bùn, chỉ tay đe dọa: — Được lắm! Cứ đợi đến giờ Ngọ ngày rằm, mười hai nha dịch đao trượng của quan huyện về đây, xem cái mõ rách của mày còn cứu nổi đất bãi này không! Rút!

Đám tuần đinh lấm lét len lén lủi qua ngõ như chuột rút chạy.

Đúng lúc đó, Bà Ba Đậu từ ngoài ngõ hớt hải bưng bát cháo hành hoa bốc khói nghi ngút bước vào. Miệng bà nhai trầu đỏ lòm, vừa đỡ bà cụ già húp từng thìa cháo ấm, vừa ngoác miệng sang sảng vạch tội: — Cái lũ sâu mọt ăn trên ngồi trốc! Lão Hách hợm bòn rút từng cắc trinh rách của kẻ cùng đinh, ép nộp tiền xâu gấp mười lần thường lệ. Dân bãi bồi chắt chiu từng gánh bún, bó rau gom góp, còn hắn thì đem bạc trắng mua vui huyện đường, tậu ruộng tốt riêng ngoài tổng! Trời cao có mắt, phen này thần thánh chẳng vật chết lũ thất đức ấy mới là lạ!

Khách họ Hà đứng lặng bên hiên nứa, chăm chú lắng nghe từng lời ruột gan, uất nghẹn của người đàn bà phốp pháp. Đôi lông mày người khách buôn nhíu chặt lại, ánh mắt sắc lẹm toát lên sự thấu suốt nỗi thống khổ ngút trời của đám dân nghèo.

Sau khi phụ giúp nhà c* Sứt thu dọn đống thóc giống vương vãi, Lão Chước cùng khách họ Hà trở về đ**m canh bờ tre đầu xóm. Ngồi trên phản gỗ cũ kỹ nhìn ra bến nước sông Đáy, Lão Chước thở ra một hơi dài, cất lời tâm sự: — Bác Hà thấy đấy, dân nghèo chúng tôi coi từng tấc đất bãi bồi như máu thịt ruột rà. Cường hào muốn cướp đất thì ắt phải thông đồng với quan huyện để làm sai lệch sổ sách thuế má. Mà loài tham lam biển thủ thì chẳng bao giờ tin nhau, chia chác bạc vạn bạc trăm bao giờ cũng ghi chép riêng một cuốn sổ phòng khi cắn xé. Tiếc rằng cuốn sổ bất minh ấy Chánh Hách giấu quá kỹ trong thư phòng kín cổng cao tường, dân ngoài khó lòng chạm tới.

Vừa dứt lời, bóng áo dài vải thô sờn vai của Giáo Vượng đã vội vã lướt qua rặng tre ngà tiến vào đ**m canh. Vạt áo thầy giáo trẻ còn vương bụi đường, gương mặt thanh tú lộ rõ vẻ xúc động dồn dập.

Giáo Vượng vòng tay lễ phép chào khách họ Hà, rồi ghé sát tai Lão Chước, ghìm giọng thì thầm từng tiếng run run: — Bác Chước ơi! Thằng hầu thân tín trong dinh Chánh tổng vừa lén báo tin cho cháu… Đúng như bác liệu định, lão Chánh Hách đang cất giấu cuốn sổ mật ghi chép tỉ mỉ việc chia chác năm trăm lạng bạc chẩn tế đê điều mùa trước cùng quan huyện ngay trong chiếc tráp gỗ lim khóa chặt ở thư phòng!

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.