Chương 13: Khách Buôn Cập Bến Trát Đỏ Về
Dòng nước xiết cuộn đỏ ngầu gầm réo dữ dội giữa cơn giông bất thần ập đến. Thân thuyền buôn hai tầng đồ sộ chao đảo, đáy cọ vào dải cát ngầm ken két, chực lật nghiêng khi sóng dữ từ ngã ba sông dồn tới. Trên boong thuyền, đám thủy thủ nháo nhào níu chặt mạn gỗ, tiếng kêu cứu chìm nghỉm trong tiếng sấm rền.
— Mau cứu người! Vượng ơi, gọi bác Đinh với trai tráng vác cuộn chão dừa ra bến ngay!
Lão Chước quẳng vội củ khoai luộc ăn dở xuống mặt chõng tre ở đ**m canh, xắn cao ống quần nâu sồng rồi thoăn thoắt lao xuống mé sông. Giáo Vượng cất tiếng gọi vang về phía xóm. Chỉ trong chớp mắt, bác Đinh cùng c* Sứt và trai đinh xóm ngụ cư đã mang theo cuộn dây chão bện vỏ dừa chắc nịch chạy ùa ra mé nước. Lão Chước cùng ba thanh niên vạm vỡ đẩy hai chiếc thuyền nan chồm qua các ngọn sóng dữ, chèo ngược luồng nước xiết tiếp cận mạn thuyền lớn. Một người đàn ông chừng ba mươi lăm tuổi, vóc người nho nhã nhưng nét mặt điềm tĩnh khác thường, đang đứng vững chãi bên cột buồm gãy. Thấy thuyền nan áp sát, người ấy mau lẹ đón lấy đầu dây chão do Lão Chước quăng lên, quấn chặt vào cọc bích sắt ở mũi thuyền.
— Đồng lòng kéo nào bà con ơi! Dô ta… hò dô ta!
Tiếng hô vang dậy của Lão Chước hòa cùng tiếng hò dô của đám trai tráng với hàng chục cánh tay gân guốc trên bờ bãi. Từng tấc chão căng tròn được thu dần. Chiếc thuyền lụa đồ sộ thoát khỏi dòng xoáy hiểm ác, từ từ nép mình vào vụng nước lặng sau doi cát an toàn. Cùng lúc đó, cơn mưa giông trút xuống rào rào rồi mau chóng tạnh hẳn, nhường chỗ cho bóng chiều sẫm lại trên triền đê.
Khách buôn họ Hà cùng bốn gia nhân từ trên thuyền bước xuống bãi bồi, quần áo tuy ướt đẫm nhưng phong thái vẫn đĩnh đạc lạ thường. Nhìn thấy mạn thuyền bên dưới rạn nứt một vệt dài, ông ta chắp tay cúi đầu thật sâu trước Lão Chước và bà con xóm ngụ cư: — Đa tạ chư huynh và bà con xóm bãi chẳng quản nguy nan cứu giúp! Tôi là khách buôn họ Hà, xuôi thuyền chở tơ lụa về hạ lưu thì chẳng may gặp gió chướng. Nay buồm rách, mạn nứt, ắt phải sửa chữa dăm ba hôm mới đi tiếp được. Không hay tôi có thể xin tá túc ít ngày nơi xóm nghèo, tiền nong ăn ở xin trả bội phần?
Lão Chước vuốt chòm râu ướt nhẹp, nheo đôi mắt ti hí cười xòa: — Nhà tranh vách đất hở trước hở sau, gió thông bốn phía. Khách thương không chê rơm rạ tro bếp thì cứ dọn về túp lều rách của lão già này bên bờ tre đầu xóm. Tình làng nghĩa xóm tối lửa tắt đèn hoạn nạn có nhau, xóm ngụ cư này chưa từng biết lấy tiền trọ của ai bao giờ!
Khách họ Hà nhìn nụ cười với hàm răng đen nhánh hạt na của lão mõ già, đáy mắt thoáng ánh lên nét ngạc nhiên xen lẫn nể phục sâu xa.
Sáng sớm hôm sau, khi màn sương bạc vừa tan trên ngọn tre già, tiếng thanh la cùng tiếng trống ngũ liên thúc giục chát chúa bỗng xé toạc bầu không khí yên bình của làng Trúc Động.
Lý trưởng Văn Cường đầu đội khăn xếp ngay ngắn, vạt áo the đen phất phơ, mặt mũi tuy hãy còn nhợt nhạt sau vụ hít trấu bổi hôm qua nhưng điệu bộ lại ngênh ngang, hống hách bội phần. Đi sau hắn là Trương tuần Đội Thẹo cùng sáu tên tuần đinh lăm lăm gậy lim, roi mây, hùng hổ kéo thẳng về phía cổng đình.
— Tránh hết ra cho việc quan! Dân làng Trúc Động nghe cho rõ!
Văn Cường hất hàm quát lớn, sai tuần đinh quét một mảng hồ nếp lên thân cột đình lim, đoạn long trọng dán lên đó một tờ giấy điều đỏ tươi rói. Phía cuối góc tờ giấy, dấu triện son vuông vức của quan Tri huyện Bùi Thế Nghiêm đỏ ối như máu gà.
Bà con xóm ngụ cư và dân chính cư nội đê nghe tiếng thanh la liền túa ra vây kín sân đình. Văn Cường đứng chống nạnh, cao giọng đọc từng lời rành rọt như rót nọc độc vào tai mọi người: — Trát sức của quan Tri huyện Bùi Thế Nghiêm! Xét thấy xóm Bãi Bồi chây ỳ tiền xâu tu tạo đình làng, nay huyện đường gia ân lần cuối: Đúng trước giờ Ngọ ngày rằm tháng này, nếu không nộp đủ hai trăm quan tiền kẽm, toàn bộ ba mươi mẫu đất phù sa bãi bồi lập tức bị tịch thu sung công quỹ, giao cho quan Chánh tổng khai khẩn lập lò gạch và bến bốc dỡ! Đặc biệt, vào ngày Đại lễ Khánh thành Đình làng tới đây, đích thân quan lớn Tri huyện sẽ dẫn mười hai nha dịch đao trượng về thân chinh dự lễ tế và trực tiếp giám sát việc thu hồi đất!
Lời tuyên bố như sét đánh ngang tai nổ tung giữa thanh thiên bạch nhật.Bốn mươi nóc nhà ngụ cư chết lặng. Tiếng than thở lập tức rộ lên. Mới hôm qua, bà con vừa mừng rỡ vì gom góp được tròn một trăm quan kẽm, nhưng nay chỉ còn vỏn vẹn ba ngày nữa là tới giờ Ngọ ngày rằm. Một trăm quan tiền còn thiếu lấy đâu ra trong chớp mắt? Lại thêm mười hai nha dịch đao trượng cùng đích thân quan huyện thân chinh áp chế, phen này coi như đường sống của dân nghèo đã bị bóp nghẹt hoàn toàn. Mấy thím xóm dưới bưng mặt rấm rứt khóc vì viễn cảnh phải bồng bế con thơ dắt díu nhau đi tha phương cầu thực.
Giáo Vượng đứng cạnh Lão Chước, hai bàn tay siết chặt phẫn uất nhìn tờ trát điều son sắc.
Thế nhưng, Lão Chước lại ung dung thong thả bước lên phía trước. Lão không hề nao núng, chiếc dùi ổi nhẵn thín kẹp hờ dưới cánh tay. Đôi mắt ti hí của lão nheo lại, chăm chú quan sát từng nét chữ chân phương trên trát, soi kỹ từ vết mực son đến từng vết xước nơi góc triện của huyện đường. Ngắm nghía một hồi, khóe miệng lão bỗng hé nở nụ cười tưng tửng quen thuộc.
Lão quay người lại, gõ nhẹ chiếc dùi vào lòng bàn tay kêu “cốp” một tiếng giòn giã, rồi cất giọng vang rền sang sảng: — Kìa bà con! Ngày rằm trăng tròn đại lễ, cửa đình lại có giấy đỏ trang hoàng nom sáng sủa, ấm cúng hẳn ra đấy chứ! Trời chưa sập thì đất phù sa ven sông vẫn còn tốt tươi nương dâu bãi ngô, việc quái gì phải rầu rĩ mà làm trò cười cho kẻ muốn đục nước béo cò? Cứ về xới đất nhổ cỏ cho kỹ, chớ vội khóc thuê cho người chưa chết!
Thấy lão mõ chẳng những không sợ hãi mà còn dám giễu cợt, Văn Cường tức tối trợn trừng mắt nhưng trước ánh nhìn sắc lẹm của đám trai đinh xóm bãi, hắn chỉ hậm hực vung tay áo rồi cùng lũ tuần đinh quay ngoắt bỏ đi.
Đêm hôm ấy, trăng vằng vặc dát bạc lên rặng tre xanh đầu xóm. Ngọn gió từ sông Đáy thổi vào mang theo hơi nước mát lành, xua đi cái oi nồng sau cơn giông ban chiều.
Tại căn nhà tranh ba gian mộc mạc của Lão Chước, chiếc chõng tre kê ngoài hàng hiên rợp bóng giàn mướp hương. Một ấm trà mộc pha bằng nước giếng đá ong bốc khói nghi ngút, tỏa hương thơm ngát đồng quê.
Lão Chước thong thả rót nước trà sóng sánh ra hai chiếc bát sành da lươn. Khách buôn họ Hà mặc chiếc áo vải thô giản dị, ngồi xếp bằng đối diện, khoan thai nâng bát trà nhấp một ngụm nhỏ.
Nhìn ngọn đèn dầu le lói đung đưa theo gió, Lão Chước thở dài một tiếng, giọng trầm ấm khác hẳn vẻ tưng tửng ban ngày: — Ông bạn họ Hà ạ, ba mươi năm trước nơi bãi bồi này chỉ là doi cát trắng hoang vu cỏ lác mọc trùm đầu gà. Bốn mươi nóc nhà ngụ cư từ khắp nơi phiêu bạt về đây, thức khuya dậy sớm, bao tháng ngày cần lao cuốc xới từng tấc đất, quai từng đoạn bờ ngăn nước lũ mới nên nương ngô bãi dâu như bây giờ. Lệ làng thường chỉ thu năm tiền mỗi suất đinh để sửa sang việc chung. Nay Chánh Hách cậy thế cậy thần, đẻ ra lệ xâu năm quan tiền, gấp mười lần thường lệ. Hắn muốn bức tử dân ngụ cư để cướp trắng ba mươi mẫu đất mở lò gạch và bến bốc dỡ riêng cho nhà hắn.
Khách họ Hà lặng lẽ lắng nghe, từng đường nét trên gương mặt nho nhã dần trở nên nghiêm nghị. Đôi mắt sâu thẳm như nhìn thấu tâm can người đối diện, ông khẽ hỏi: — Trát đỏ của quan huyện đã dán rõ ràng, lại thêm nha dịch áp chế ngày đại lễ, lẽ nào hương thân trong làng không ai đứng ra can ngăn?
Lão Chước cười nhạt, lắc đầu: — Cụ Cả Đỗ dẫu có lòng ngay nhưng tuổi cao sức yếu, lại bị bọn hào lý bưng bít tai mắt. Còn quan Tri huyện Bùi Thế Nghiêm xa xôi kia, nếu không đút lót bạc nén vào túi thì làm sao Chánh Hách dám ngông nghênh đòi điều cả mười hai tên đao trượng về đàn áp dân lành? Đất bãi vốn là công điền trợ tế, tổ tiên truyền lại rành rành trong văn tự, há lại để lũ sâu mọt bẻ cong công lý như bẻ que tre hay sao!
Khách họ Hà thong thả đặt chiếc bát sành xuống mặt chõng tre nghe một tiếng “cạch” đanh gọn. Không khí bỗng chốc như cô đọng lại. Ánh mắt người khách buôn bỗng lóe lên tia nhìn đanh thép lạ lùng, toát ra vẻ uy nghiêm trấn áp lòng người mà không một thương nhân tầm thường nào có được.
Ghìm giọng xuống thật thấp, khách họ Hà nhìn thẳng vào đôi mắt ti hí của Lão Chước, cất lời rành rọt từng tiếng: — Bác Mõ này, nếu bảo rằng hào lý địa phương cùng quan huyện cấu kết đục khoét tiền công, mượn cớ tế tự để ép bách thứ dân, liệu bác có nắm được bằng cớ xác thực nào bằng xương bằng thịt, bằng giấy trắng mực đen hay chăng?
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
