Chương 10: Vó Ngựa Đường Quan Hung Tin Về
Cánh cổng gỗ lim dinh cơ Chánh tổng Ma Đình Hách vừa sập lại sau bóng kỵ mã, tiếng then cài va nhau khô khốc giữa đêm vắng nghe rợn người. Lão Chước đứng sững bên thềm đá ong, đôi mắt ti hí nheo lại nhìn qua rặng tre ngà. Ánh đuốc bên nhà họ Ma đỏ rực đến tận canh ba, tiếng xì xào chìm nổi lẫn trong tiếng chó săn sủa gắt. Suốt đêm ấy rồi sang mấy ngày kế tiếp, lão dời đồ nghề ra đ**m canh rêu phong dưới gốc đa đầu xóm, vừa túc trực canh chừng vừa dùng mũi dao gọt giũa lại chiếc Mõ Cá Ngáp bằng gỗ sung.
Không khí làng Trúc Động những ngày giáp rằm ngột ngạt như vại cà nén chặt. Mặt trời như mâm đồng đỏ nung bờ đê khô khốc. Đám tuần đinh bỗng dưng lượn lờ ít hẳn, không xông xáo vác gậy chặn ngõ đòi tiền xâu như trước. Nhưng vẻ im lìm ấy chẳng lừa nổi lão Mõ: cọp nằm im là đang thu mình chờ phóng vuốt.
Trưa trật, bóng cau ngả dài trên lối mòn. Bé Cúc xách chiếc làn tre cũ tới, mang theo bọc mo cau đựng hai vắt cơm nắm muối vừng và bầu nước chè xanh om đặc. Đặt làn xuống bậu cửa đ**m canh, cô bé lau mồ hôi trán, khẽ thở dài: — Thầy ngồi phơi nắng từ sớm, bụng rỗng tuếch thế này thì sức đâu mà lo liệu. Con nắm cơm với muối vừng thơm lắm, thầy ăn lót dạ đi kẻo lả.
Lão Chước nhe hàm răng đen nhánh hạt na cười tưng tửng: — Lả làm sao được! Thầy mày ăn gió sông nửa đời người rồi, xương cốt dẻo dai chán.
Lão bẻ đôi nắm cơm đưa cho con gái một nửa, rồi chấm muối vừng giòn rụm, nhai chậm rãi. Bé Cúc cắn một miếng nhỏ, ngước nhìn dinh cơ ngói son bên kia mương, giọng chùng xuống: — Thầy ơi, gom góp cả vốn liếng bốn mươi nóc nhà mới được tròn tám mươi quan tiền kẽm. Đến rằm chỉ còn vài hôm, đào đâu ra một trăm hai mươi quan nữa? Liệu cuốn sách cũ của ông nội để lại trong ống bương có giữ nổi dải đất ngoài bãi không thầy?
Nhắc đến cuốn sách bọc da trâu do thân phụ – nguyên Chánh tiên chỉ làng – truyền lại, mắt Lão Chước sáng quắc. Lão hớp ngụm nước chè xanh chát ngọt rồi bảo: — Ba mươi mẫu bãi bồi ngoài kia là phù sa sông Đáy bồi tụ suốt ba mươi năm, là mồ hôi nước mắt của dân ngụ cư từ thuở dạt về đây khai khẩn. Ông nội con đã ghi rành rành vào Hương ước cổ: Đất bãi bồi ngoài đê là công điền trợ tế người nghèo, hào lý không được phép cưỡng đoạt. Con người ta có thể nghèo manh áo rách, nhưng mảnh đất nuôi sống mình thì một tấc không thể buông. Thầy mày nhịn nhục bấy lâu cốt để bắt chúng nó phải cúi đầu trước luật tục.
Bé Cúc nghe cha nói, lòng dạ vững tâm hơn, liền dọn dẹp mo cau rồi rảo bước về xóm phụ thím Đậu nong dâu tằm.
Chiều muộn buông xuống, ráng đỏ nhuộm thẫm dòng sông Đáy. Gió bãi ngô thổi vào mát rượi, nhưng ngực Lão Chước lại dấy lên từng đợt bồn chồn khó tả. Đột nhiên, tiếng vó ngựa dồn dập lại xé toạc hoàng hôn: “Cộp! Cộp! Cộp!”.
Một kỵ mã mặc áo nâu nẹp vải xanh phi nước đại từ hướng huyện đường về. Lão Chước nhận ra ngay tên tay sai thân tín của Chánh Hách, kẻ đã bí mật phi ngựa rời làng từ hôm trước. Con ngựa vừa tới cổng ngách, tên lính canh vội mở then cho kỵ mã lao tọt vào hoa viên sau dinh rồi đóng sầm cửa lại.Lão Chước đứng bật dậy, giấu chiếc Mõ Cá Ngáp và thanh dùi ổi vào hốc cây đa, rồi thoăn thoắt qua bờ mương. Dáng đi của lão ngả nghiêng như say rượu, nhưng bước chân lướt êm ru trên cỏ. Lão áp sát hàng rào râm bụt um tùm sau gian chái dinh Chánh tổng. Rút chiếc điếu dóng nứa giắt lưng, lão lè nhè gọi tên tuần đinh gác cổng: — Chú lính ơi… cho lão Mõ xin tí đóm đỏ châm điếu thuốc lào… nhạt mồm quá…
Tên lính xua đuổi: — Biến ngay! Quan lớn đang bàn việc quan, lảng vảng ở đây tao tẩn cho nát xương!
Lão Chước vờ khúm núm thối lui, rồi lách mình vào khoảng tối rậm rạp của bụi râm bụt, nín thở nép sát vách gỗ. Qua khe cánh chấn song tiện, lão nhìn rõ cảnh tượng bên trong.
Chánh tổng Ma Đình Hách ngồi chễm chệ trên sập gụ khảm ốc xà cừ, bụng phệ rung lên theo nhịp quạt mo. Chiếc tráp gỗ trên bàn đã mở toang trống trơn, số bạc nén lót tay đã dâng trọn cho quan trên. Quỳ dưới đất là tên kỵ mã người ngợm bụi bặm, hai tay nâng cao tờ trát bọc vải điều đỏ rực, the thé bẩm: — Bẩm thầy Chánh! Con đã đem đủ số bạc lên tận tư dinh quan Tri huyện Bùi Thế Nghiêm. Quan lớn mừng lắm, khen thầy chu đáo. Đây chính là trát đỏ do đích thân ngài ký duyệt, chuẩn y việc tịch thu toàn bộ ba mươi mẫu bãi bồi sung vào công quỹ làng để thầy mở lò gạch và bến bốc dỡ!
Chánh Hách vội chộp lấy tờ trát đỏ, trợn tròn mắt đọc ngấu nghiến từng dòng son. Hắn đập tay đánh “bốp” xuống mặt sập, ngửa cổ cười sằng sặc làm ba ngấn mỡ rung rinh: — Tốt lắm! Quan huyện đã đóng dấu son thì trời cũng không cãi được! Thằng Chước mõ với bốn mươi nóc nhà ngụ cư phen này chỉ có nước dắt díu nhau đi ăn mày!
Tên tay sai nhổm dậy thì thào thêm: — Chưa hết đâu thầy Chánh ạ. Quan Tri huyện còn dặn, đúng ngày Đại lễ Khánh thành Đình làng sắp tới, ngài sẽ thân chinh dẫn theo một toán nha dịch mười hai người, đao trượng lăm lăm về Trúc Động dự lễ. Lúc ấy, nếu lũ dân ngụ cư dám ho he chống đối không chịu nhổ cọc giao bãi, quan lớn sẽ hạ lệnh gông cổ từng thằng lôi về huyện tra khảo tội chống lệnh triều đình!
Chánh Hách khoái chí vuốt chòm ria mép chuốt sáp nhọn hoắt: — Tuyệt diệu! Ngày đại lễ khánh thành đình làng, trước mặt bàn dân thiên hạ, ta sẽ b*p ch*t đám cỏ rác bãi bồi ấy ngay giữa chốn đình trung. Để xem cái mõ rách của thằng Chước còn khua khoắng được gì!
Từng lời cay độc rót vào tai Lão Chước như dầu sôi lửa bỏng. Hàm răng đen nhánh cắn chặt, hai bàn tay lão nắm lại đến mức móng tay hằn sâu vào da thịt. Lão lặng lẽ lùi khỏi bụi râm bụt, luồn qua màn đêm trở về gốc đa mà không gây ra tiếng động nhỏ nào.
Đêm buông xuống đen đặc như mực tàu. Tiếng vó ngựa dồn dập cùng ánh đuốc lập lòe của tên kỵ mã vừa phi về dinh cơ báo trước một cơn bão dữ không còn là điều phỏng đoán. Lão Chước đứng lặng bên rặng tre già đầu xóm, tay mân mê từng đường nét thô mộc của chiếc Mõ Cá Ngáp. Dưới chân lão, dòng sông Đáy cuộn sóng ngầm đen thẫm, lạnh buốt trong gió đêm. Lão Mõ ngước nhìn vầng trăng thượng tuần đang treo chênh chếch, hiểu rõ thời khắc sinh tử định đoạt số phận của bốn mươi nóc nhà xóm Bãi Bồi đã thực sự cận kề.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
