Chương 17: Mây Mù Quỷ Môn
Tiếng tù và sừng trâu rít lên từng chập ma quái, dội vào vách đá dựng đứng rồi dập ngược xuống lòng thung lũng sâu hoắm, tựa hồ tiếng gầm rú của loài ác thú vừa phá cũi xổng chuồng. Đứng nép mình sau tảng đá tai mèo phủ rêu ẩm ướt, Vũ Ngọc Cầm cảm nhận rõ rệt từng đợt rung chấn truyền qua đế hài vải mỏng. Mặt đất dưới chân nàng đang run rẩy theo nhịp vó ngựa bọc sắt dập dồn từ phía hẻm Quỷ Môn Quan tràn tới.
Màn sương sớm nơi ải Chi Lăng dày đặc tựa hồ chậu vôi sữa vừa đổ tràn, quấn lấy từng ngọn cây ngọn cỏ, đọng thành những giọt nước lấm tấm trên mái tóc vừa búi gọn của nàng. Hơi lạnh buốt giá luồn qua vạt áo chẽn, phả vào da thịt một cảm giác tê tái. Nhưng điều khiến lồng ngực Ngọc Cầm thắt lại không phải là cái lạnh thấu xương của núi rừng phương Bắc, mà là những hạt nước li ti đang bám chặt trên thân nòng của năm mươi khẩu súng Thần cơ đời mới.
Là con nhà nòi đúc đồng, suốt mười năm lăn lộn bên bể tôi lò lửa, Ngọc Cầm hiểu rõ hơn ai hết kẻ thù nguy hiểm nhất của hỏa khí chốn sa trường không phải là gươm đao của địch, mà chính là sự ẩm ướt của trời đất. Chỉ cần một giọt sương đọng lọt vào buồng nòng hay làm ẩm hạt thuốc mồi nơi khay đánh lửa, khẩu súng quý giá sẽ câm bặt giữa lúc sinh tử.
Không chút chần chừ, nàng mở chiếc tráp da trâu đeo bên hông, lấy ra chiếc lọ sứ nhỏ đựng mỡ trăn tinh chế. Thứ mỡ sánh vàng, ngậy mùi thảo dược này được phụ thân nàng truyền dạy bí phương luyện lọc từ ba năm trước, chuyên dùng để phong kín kẽ hở kim khí trong những ngày mưa dầm gió bấc.
Cầm cây cọ lông thỏ mềm mại, Ngọc Cầm khẽ khàng lướt qua hàng xạ thủ Cấm vệ quân đang phục kích sau gờ đá. Đôi bàn tay khéo léo của nàng mau lẹ chấm mỡ trăn, cẩn trọng quét một lớp mỏng mịn quanh mép khay mồi, phủ kín khớp nối then cài hoa mai và lỗ điểm hỏa của từng khẩu súng.
“Giữ chặt nắp che khay mồi, chớ để sương đọng rơi vào thuốc súng.” Nàng thì thầm dặn dò người lính trẻ đang quỳ cạnh mình, giọng trong trẻo mà đanh gọn, không gợn chút run rẩy.
Người lính Cấm vệ ngẩng nhìn nàng, ánh mắt ban đầu còn thoáng nét căng thẳng trước tiếng gầm rú của bầy kỵ binh phía xa, nay bỗng dịu lại trước sự điềm tĩnh lạ kỳ của nàng quân giới sư. Anh ta siết chặt báng gỗ lim, gật đầu dứt khoát.
Ngọc Cầm cúi sát nòng súng của khẩu thứ mười hai, ngón tay thanh mảnh chạm nhẹ vào chốt hãm hoa mai năm cánh khuyết góc trên buồng nòng. Từng đường tiện đồng trơn láng, từng rãnh then ăn khớp khít khao đến mức dù có dùng đầu sợi tóc cũng chẳng thể lọt qua. Nàng khẽ gạt nhẹ bẩm hỏa thử nghiệm. Một tiếng “tách” khô giòn, sắc lẹm vang lên trong khe đá. Khớp ngàm Dần Bính giữ buồng nòng xoay chuyển mượt mà, hạt lửa thử nghiệm lóe lên tia sáng xanh trong lòng bàn tay nàng rồi tắt ngấm. Mọi thứ đều chuẩn xác đến từng phân, từng ly, đúng như công thức hợp kim bảy phần đồng đỏ, hai phần kẽm sống và một phần thiếc tinh mà nàng cùng Nhật Duật đã thức trắng bao đêm thâu giải mã.
Sau khi kiểm tra dứt điểm khẩu súng cuối cùng ở góc đá bên tả, Ngọc Cầm ngẩng đầu quan sát địa thế lòng thung lũng.
Gió núi Chi Lăng lúc này bắt đầu nổi lên. Nhưng thay vì thổi xuôi theo con đường độc đạo, ngọn gió sớm khi va vào bức tường đá vôi dựng đứng sừng sững của Quỷ Môn Quan liền bị bẻ gãy, xoáy ngược trở lại tạo thành một luồng gió quẩn hung hãn, cuốn theo bụi mù và sương ẩm bốc ngược lên cao.
Đôi mắt Ngọc Cầm khẽ co rút lại. Với người bình thường, ngọn gió kia chỉ là cơn gió lạnh buốt thông thường của vùng biên ải. Song dưới con mắt của một bậc thầy hỏa khí am tường đạn đạo, luồng gió xoáy ngược ấy là một hiểm họa chí mạng.
Nếu dàn quân thành một hàng ngang truyền thống trên sườn dốc như thông lệ, khi năm mươi khẩu súng đồng loạt khạc lửa, làn khói súng mịt mù từ diêm tiêu và lưu huỳnh sẽ bị luồng gió xoáy thốc ngược thẳng vào mặt xạ thủ, làm mờ mắt và gây nghẹt thở. Nghiêm trọng hơn, luồng gió quẩn từ hốc núi thổi chéo sang hữu sẽ bạt cong đường bay của những viên đạn đồng, khiến tầm bắn tám mươi trượng bị hao hụt, mất đi uy lực xuyên phá giáp sắt.
Không chần chừ một khắc, Ngọc Cầm nhẹ nhàng rảo bước qua những mỏm đá gập ghềnh, tiến sát về phía Đặng Nhật Duật.
Chàng đang đứng sừng sững trên một mỏm đá tai mèo nhô cao, một tay chống thanh trượng kiếm bọc thép xanh cắm sâu vào khe nứt, tay kia khẽ chạm vào chuôi Thượng phương bảo kiếm bên hông. Tấm áo bào sẫm màu của chàng ướt đẫm sương đêm, nhưng bóng lưng cao lớn ấy lại vững chãi tựa một trụ đá ngàn năm giữa thung lũng sương mờ. Nơi ngực áo chàng, chiếc trâm đồng hoa sen cài chìm trong nếp vải khẽ gồ lên, như một ngọn lửa ngầm âm ỉ sưởi ấm tâm can người chiến tướng.
“Đặng huynh!” Ngọc Cầm khẽ gọi, hạ thấp giọng nhưng từng chữ rành rẽ.
Nhật Duật nghiêng đầu, ánh mắt sắc bén như chim ưng nhìn xuống nàng, vẻ nghiêm nghị lập tức tan biến, nhường chỗ cho sự tin cậy tuyệt đối: “Ngọc Cầm, hỏa khí đã ổn thỏa cả chứ?”
“Súng và thuốc nổ đều khô ráo, then hoa mai vận hành trơn tru tuyệt đối.” Ngọc Cầm nhanh chóng đưa tay chỉ về phía khe hẹp hình phễu giữa hai vách đá vôi: “Nhưng địa hình Quỷ Môn Quan này có luồng gió quẩn rất quái ác. Huynh nhìn lớp sương mù đằng kia xem, gió đang xoáy ngược từ lòng chảo hốc đá thốc sang mạn hữu. Nếu chúng ta giàn hàng ngang điểm hỏa, khói độc sẽ táp ngược che mắt quân ta, luồng gió nghịch cũng bẻ lệch hướng đạn đồng.”
Nhật Duật nheo mắt dõi theo hướng tay nàng chỉ. Quả nhiên, những dải sương mây trắng đục dưới hẻm núi không trôi xuôi mà đang cuộn tròn thành từng xoáy lốc nhỏ quanh các cột đá tai mèo. Chàng quay lại nhìn nàng, ánh mắt ngời sáng vẻ tán thưởng: “Nàng tính bố trí thế nào?”
“Phải xếp thành thế trận ba tầng so le đón đầu hướng gió!” Ngọc Cầm dứt khoát đáp, ngón tay nàng vạch nhanh ba đường zích zắc trên nền đá ẩm: “Hai mươi tay súng tầng một quỳ bắn ở gờ đá thấp nhất, mười lăm tay súng tầng hai khom lưng ở bậc đá trung, mười lăm tay súng tầng ba đứng thẳng trên gờ đá cao. Mỗi tầng đứng lệch nhau ba bước chân theo hình răng lược. Bố trận như vậy, luồng gió xoáy sẽ luồn qua các khe hở tản khói súng về phía sau vách đá, tầm nhìn của xạ thủ luôn thông suốt. Hơn nữa, đạn phóng ra theo ba tầng cao thấp đan xen sẽ tạo thành một tấm lưới hỏa lực dốc thẳng xuống họng kẹp thung lũng, đón đúng góc rơi của gió, uy lực tăng lên gấp bội!”
Đứng bên cạnh, Đội trưởng Cấm vệ Lê Cảnh vừa nghe xong liền đập mạnh tay vào đốc đại đao, trầm trồ thán phục: “Diệu kế! Bố trận như thế chẳng khác nào mở rộng miệng túi nuốt trọn đàn trâu mộng!”
Nhật Duật nhìn sâu vào đôi mắt sáng ngời thông tuệ của Ngọc Cầm, gật đầu thật mạnh: “Được! Cứ theo kế của nàng mà làm.”
Chàng lập tức phất tay ra hiệu. Lê Cảnh khẽ huýt sáo ngắn, năm mươi thiện xạ Cấm vệ quân thuần thục di chuyển như những bóng ma trong sương sớm. Chỉ trong nửa tuần trà, ba tầng hỏa lực so le hình răng lược đã được thiết lập vững như bàn thạch men theo vách đá thoải phía đông thung lũng, nòng súng đen nhánh chĩa thẳng vào khúc quanh tử địa Quỷ Môn Quan.Vừa lúc thế trận vừa thành, tiếng tù và sừng trâu bỗng ngưng bặt, thay vào đó là tiếng thét xung phong man rợ xé rách không gian.
Từ màn sương trắng đục phía cuối hẻm núi, toán kỵ binh ngoại bang hung hãn ùa ra như lũ vỡ bờ. Đó là hơn một trăm thiết kỵ to lớn, mình khoác giáp sắt vảy cá dày cộp, đầu đội mũ trụ gắn lông chim ưng, tay lăm lăm trường mâu sáng loáng và loan đao cong vút. Bầy ngựa chiến thảo nguyên to lớn, bờm dựng đứng, bốn móng bọc sắt nện thình thịch lên mặt đá lởm chởm, cày xới mặt đất thung lũng bắn tung tóe những tảng bùn đen sẫm. Chúng ỷ thế quân đông giáp dày, gầm rú điên cuồng lao thẳng vào con đường độc đạo.
Đúng lúc ấy, tầm mắt của Ngọc Cầm bị thu hút bởi một bóng người xuất hiện trên mỏm đá vôi cheo leo nhô ra phía trên cửa hẻm.
Đó chính là Tả Thị lang Binh bộ Trần Hoài Viễn!
Lão quan nhị phẩm ngày nào đạo mạo chốn triều đình nay khoác cẩm bào xanh đen rách tơi tả, chòm râu dài rối bời vì bụi đường gió cát, nhưng nét mặt lại ngập tràn vẻ ngạo nghễ, đắc thắng đến điên loạn. Tay trái lão ôm khư khư chiếc tráp gỗ lim bọc đồng chứa cuộn mật đồ bảy cứ điểm hỏa lực Chi Lăng. Tay phải lão giơ cao thanh đoản đao, để lộ rõ vết sẹo co rúm màu nâu sẫm hình bán nguyệt trên mu bàn tay — vết tích của tia đồng sôi từ vụ nổ lò oan nghiệt ba năm trước.
“Giết! Giết sạch lũ tàn binh Đại Việt cho ta!” Tiếng Hoài Viễn the thé hò hét vọng qua vách đá, khàn đặc mà tàn độc: “Chỉ là một nhúm cấm binh quèn mang theo mấy ống đồng phế thải! Băm nát chúng ra, vượt qua cửa ải này phương Bắc sẽ phong hầu bái tướng cho các ngươi!”
Nhìn thấy vết sẹo bỏng đồng trên tay kẻ thù giết cha, lồng ngực Ngọc Cầm nhói buốt như có ngàn mũi kim châm. Ngọn lửa căm hờn cuộn trào trong huyết quản, đôi bàn tay nàng vô thức siết chặt chiếc kéo cắt nguội giắt bên thắt lưng. Ba năm qua, nỗi oan khuất của gia tộc họ Vũ, máu xương của phụ thân và bao huynh đệ phường Ngũ Xã đều bắt nguồn từ dã tâm b*n n**c cầu vinh của con người đang đứng trên mỏm đá kia!
“Vút! Vút! Vút!”
Tiếng xé gió rợn người cắt đứt dòng suy nghĩ của nàng. Toán kỵ binh ngoại bang đi đầu đã giương cung cứng, đồng loạt b*n r* một cơn mưa tên bịt sắt nhắm thẳng vào triền đá nơi quân Đại Việt mai phục. Những mũi tên đen đặc như đàn châu chấu rít lên man dại, cắm phầm phập vào các thân cây sau lưng, tóe lửa trên vách đá tai mèo.
Mấy người lính Cấm vệ giơ khiên mây lên đỡ, tiếng mũi sắt va chạm mộc đan bôm bốp chói tai. Một mũi tên lạc bay sạt qua chỏm đá, găm trúng túi da đựng đạn của xạ thủ hàng đầu khiến anh ta lảo đảo ngã quỵ, ống thuốc nạp đạn trên tay văng ra ngoài kẽ đá.
Giữa làn mưa tên bay rợp trời đất, Ngọc Cầm không hề lùi bước dù chỉ nửa phân. Nàng cúi thấp người, nhanh như cắt lướt qua làn khói sương và bụi đá, lao tới bên cạnh người lính trẻ. Đôi tay thoăn thoắt của nàng nhặt lấy ống đồng đo lường, rút từ trong túi vải ra một liều thuốc súng đen mịn đã được cân định lượng chuẩn xác, dốc thẳng vào miệng nòng súng.
“Bình tĩnh! Đừng nhìn tên bay, nhìn vào nòng súng!” Giọng Ngọc Cầm vang lên dõng dạc, đanh thép mà ấm áp lạ lùng.
Nàng vung dùi sắt nén chặt lớp bùi nhùi, tra viên đạn đồng bọc mỡ trăn vào buồng nòng rồi gạt then hoa mai vào đúng khớp ba khắc. Động tác của nàng thuần thục, chuẩn xác tựa như đã thao diễn hàng ngàn lần. Sự kiên cường, quả cảm của nàng nữ thợ đúc giữa lằn ranh sinh tử đã thắp lên ngọn lửa dũng khí cho toàn bộ xạ thủ Cấm vệ. Không một ai nao núng, không một cánh tay nào run rẩy; tất cả đều cắn chặt răng, giữ vững kỷ luật chiến trường trong im lặng lạnh lùng.
Phía trước, Đặng Nhật Duật đã bước lên điểm cao nhất của gờ đá tiền tiêu. Mặc cho gió rét thốc tung vạt áo bào, mặc cho mũi tên sắt cắm sạt qua chân đá cách gót chân tật nguyền chưa đầy một tấc, chàng vẫn đứng sừng sững như một pho tượng đồng đen.
Dưới ánh mắt dõi theo đầy căng thẳng của Ngọc Cầm, bóng lưng Nhật Duật vẫn đứng sững, trong khi đoàn thiết kỵ đang lồng lộn xông tới, thu hẹp từng khoảng cách tử thần: tám mươi trượng… sáu mươi trượng… bốn mươi trượng…
Khi đầu mũi tên nhọn hoắt của toán kỵ binh tiền phong gần như chạm tới chân dốc, Nhật Duật vung mạnh thanh trượng kiếm lên không trung. Lưỡi thép xanh rạch toạc màn sương mù mịt, ánh lên tia sáng lạnh ngắt tựa sấm sét giữa ban ngày.
Giọng chàng cất lên, vang dội như chuông đồng ngâm nga giữa vách núi Quỷ Môn “Toàn quân! Mở then hoa mai! Khóa ngàm bẩm hỏa!”
“Tách! Tách! Tách!”
Năm mươi âm thanh kim khí đồng loạt gõ nhịp vang rền khắp sườn núi. Khớp ngàm hoa mai xoay chuyển, buồng nòng khóa chặt kín như bưng, những sợi tim hỏa bọc lưu huỳnh cháy đỏ rực đầu nùi, áp sát vào khay thuốc mồi đẫm mỡ trăn. Năm mươi nòng súng Thần cơ đời mới đen nhánh đồng loạt hạ thấp, chĩa thẳng xuống lòng thung lũng hẹp, đón đầu luồng gió quẩn.
Dưới đáy hẻm núi, tiếng vó ngựa bọc sắt gầm vang rung chuyển thung lũng Chi Lăng, hàng trăm thiết kỵ giặc chỉ còn cách mũi súng Đại Việt ba mươi bước chân.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
