Chương 16: Lệnh Xuất Biên Cương
Nhật Duật nhìn sâu vào đôi mắt kiên định của Vũ Ngọc Cầm giữa làn gió thu buốt lạnh thốc lên từ mặt hồ Lục Thủy. Xung quanh họ, tiếng quân dân reo hò mừng kho quân khí Bạch Mã bình an vô sự vẫn dội vang mặt nước, nhưng nỗi âu lo cho xã tắc trong lòng chàng lại cuộn trào như sóng dữ. Bàn tay Ngọc Cầm nhỏ nhắn, vương mùi bùn cống ngầm và thô ráp vết chai nghề nguội, ống chân nàng rách một vệt rỉ máu do va phải đá nhọn, nhưng hơi ấm truyền sang lại vững chãi lạ thường. Giữa thời khắc biên cương nghìn cân treo sợi tóc, ngọn hào khí rực cháy trong lồng ngực người con gái họ Vũ không hề thua kém bất kỳ đấng nam nhi nào.
Chàng siết nhẹ bàn tay nàng, giọng trầm hùng mà dứt khoát: “Được! Giang sơn lâm nguy, há câu nệ phận nữ nhi hay nam tử. Chúng ta cùng đi!”
Quay sang Đội trưởng Cấm vệ Lê Cảnh, chàng cất lời đanh thép: “Lê huynh, khẩn cấp hộ tống Ngọc Cầm về Binh Bộ nha môn. Chúng ta phải bẩm báo với Thượng thư đại nhân ngay trong đêm nay!”
Canh tư sang canh năm, sảnh đường Binh Bộ đèn nến thắp sáng trưng. Thượng thư Lê Niệm đứng lặng trước tấm bản đồ biên ải treo trên vách gỗ lim, vạt áo bào thêu chim công khẽ rung theo từng cơn gió lạnh lùa qua khung cửa. Nghe Nhật Duật tường trình việc kho Bạch Mã đã an toàn và Tả Thị lang Trần Hoài Viễn giết lính cửa Bắc cướp cuộn mật đồ bảy cứ điểm Chi Lăng đào tẩu, vị Thượng thư đập mạnh tay xuống bàn, giận dữ thốt lên: “Lão tặc b*n n**c năm xưa hại chết Vũ Đình Cương, ém nhẹm vụ nổ lò đúc, nay lại toan dâng yết hầu biên cương cho giặc! Nếu bảy cứ điểm Chi Lăng bị đối phương bẻ gãy từ bên trong, thiết kỵ phương Bắc tràn xuống như thác lũ, non sông sẽ chìm trong biển máu.”
Nhìn Ngọc Cầm thân mang áo chẽn còn đẫm hơi lạnh đêm hồ nhưng cốt cách đĩnh đạc tựa cành trúc trước gió bão, ánh mắt Lê Niệm chan chứa niềm cảm kích lẫn xót xa: “Vũ cô nương, lệnh phụ dưới suối vàng ắt ngậm cười khi thấy con gái mình cứu vãn cả Thăng Long. Triều đình mắc nợ phụ tử họ Vũ một món ân tình lớn lao.”
Ngọc Cầm chắp tay, đĩnh đạc thi lễ: “Bẩm Thượng thư đại nhân, mối oan của gia phụ đã tỏ, song mối họa nước nhà còn đang rình rập nơi biên viễn. Trần Hoài Viễn cướp mật đồ vượt ải, nhưng hắn không có súng tốt để phá quan. Năm mươi khẩu súng Thần cơ hoa mai dân nữ vừa hoàn thành tại xưởng Ngũ Xã có tầm bắn xa tám mươi trượng, nòng súng đúc bằng hợp kim chuẩn ba thành phần bền chắc tuyệt đối. Dân nữ xin tòng quân bắc tiến, đem thân thợ nguội bảo dưỡng hỏa khí, cùng Đặng quan nhân chặn đứng bước chân nghịch tặc!”
Lê Niệm vuốt chòm râu bạc, khen ngợi chí khí quật cường ấy. Ngài xoay người lại phía hương án, cẩn trọng mở chiếc tráp khảm ốc xà cừ, nâng lên thanh bảo kiếm vỏ bọc da cá đuối nạm ngọc lấp lánh trao cho Nhật Duật, giọng sang sảng như chuông đồng: “Đặng Nhật Duật nghe chỉ! Hoàng thượng đã ban mật dụ trao trọn quyền định đoạt biên ải cho Binh Bộ. Nay bản quan phụng mệnh Thánh thượng, trao Thượng phương bảo kiếm này cho ngươi, lệnh ngươi thống lĩnh năm mươi thiện xạ Cấm vệ quân mang năm mươi khẩu Thần cơ hoa mai thần tốc truy kích! Ngươi được quyền tiền trảm hậu tấu, bằng mọi giá phải chém đầu Trần Hoài Viễn trước Quỷ Môn Quan, đoạt lại nguyên vẹn cuộn mật đồ bảy cứ điểm!”
Nhật Duật quỳ sụp một gối, hai tay kính cẩn đón kiếm: “Hạ thần lĩnh mệnh! Kiếm còn người còn, thề quyết không để một tấc mật đồ rơi vào tay ngoại bang!”
Lê Niệm nhìn sang Ngọc Cầm, ánh mắt tin cậy: “Vũ cô nương, bản quan chuẩn y cho ngươi tòng quân với tư cách quân giới sư của triều đình. Hỏa khí là rường cột quốc gia, trông cậy cả vào hai người.”
Thời gian không chờ đợi ai. Hạn định mười lăm ngày phá án nay chỉ còn đúng ba ngày đêm.
Trước sân nha môn, năm mươi kỵ binh Cấm vệ thiện xạ do Lê Cảnh tuyển lựa đã tề tựu đông đủ, lưng mang súng Thần cơ bọc kín trong bao da trăn chống ẩm, bên hông đeo túi đạn đồng và bao diêm tiêu khô ráo. Vũ Ngọc Cầm khoác lên mình chiếc áo chiến bào thợ nguội may bằng da thú thô ráp, bên hông thắt dải lụa xanh, sau lưng mang hòm gỗ mun chứa búa nguội, giũa thép, kìm bấm ngàm, các thỏi đồng hợp kim hoa mai dự phòng và những lọ mỡ trăn chuyên dùng dưỡng nòng chống gỉ sét.
Trời chưa rạng sáng, tiếng còi lệnh rúc lên vang dội. Tiếng vó sắt dồn dập nện trên mặt đường lát đá, xé toang sự tĩnh mịch của kinh thành Thăng Long. Đoàn kỵ mã phi nước đại qua cửa bắc, cuồn cuộn lao đi tựa mũi tên rời dây cung. Họ vượt bến đò sông Đuống trong màn sương mù mịt, chuyển ngựa trạm không ngừng nghỉ, xuyên qua đất Kinh Bắc rồi tiến vào Lạng Giang.
Nhật Duật dẫn đầu đoàn quân, một tay ghìm cương, tay kia nắm chặt thanh trượng giấu kiếm để giữ thăng bằng. Thanh Thượng phương bảo kiếm đeo ngang hông va đập nhịp nhàng vào giáp hộ tâm. Gió bấc thốc ngược vào mặt buốt rát. Mỗi nhịp phi nước đại dội một cơn nhức buốt từ khớp gối trái lên sống lưng chàng — vết thương tên độc ba năm trước lại nhói buốt như nhắc nhớ món nợ máu nơi biên ải. Song mỗi khi ngoái nhìn sang bên, thấy Ngọc Cầm mím môi bám sát, ánh mắt rực sáng giữa gió bụi dặm trường mà không một lời than vãn, bao nhọc nhằn trong lòng Nhật Duật dường như tan biến.
Đến đêm thứ hai của cuộc truy kích thần tốc, gió mùa đông bắc rít gào qua các khe núi đá vôi, rét mướt buốt thấu tận xương tủy. Đoàn quân tạm dừng chân trong một ngôi miếu đá cổ rêu phong dưới chân đèo Lạng để dưỡng sức cho ngựa và kiểm tra lại cơ bẩm hỏa khí. Cấm vệ quân chia nhau canh gác bốn phía, gom cành thông khô nhóm lên đống lửa sưởi ấm giữa gian miếu hoang.
Nhật Duật ngồi tựa lưng vào tảng đá xanh, sắc mặt tái nhợt dưới ánh lửa bập bùng. Cơn đau buốt từ chân trái cùng vết thương đao độc ở bả vai phải bị cái lạnh cắt da hành hạ, khiến trán chàng lấm tấm mồ hôi. Khớp gối chàng sưng tấy, mỗi cử động nhỏ đều nhói buốt tựa kim châm.
Một bóng hình mảnh mai nhẹ nhàng bước tới. Ngọc Cầm mang theo chiếc bình gốm nhỏ cùng bát rượu thuốc bốc khói nghi ngút vừa hâm nóng trên than hồng, quỳ xuống bên chàng: “Đặng huynh, để muội giúp huynh xoa dịu vết thương.”Nhật Duật toan gượng ngồi dậy: “Ngọc Cầm, đường trường vất vả, nàng đã mệt lử cả ngày rồi, hãy mau nghỉ ngơi đi...”
“Huynh chớ cậy mạnh,” giọng nàng mềm mại mà kiên quyết, “huynh là linh hồn của năm mươi tay súng, nếu chân huynh gục ngã, ai sẽ vung kiếm chỉ huy trận chiến nơi Quỷ Môn Quan?”
Không để chàng từ chối, Ngọc Cầm khẽ khàng vén ống quần vấy bụi đường của chàng lên. Khớp gối trái sưng đỏ, vết sẹo mũi tên năm xưa co rúm lại thành vết sẫm màu dữ tợn khiến mắt nàng chùng xuống xót xa. Nàng rót rượu thuốc ra lòng bàn tay thô ráp mang vết chai đúc đồng, xoa hai tay vào nhau cho nóng lên rồi áp chặt vào gối chàng, cẩn thận xoa bóp từng đường gân thớ thịt.
Sức nóng cay nồng của rượu thuốc hòa cùng hơi ấm dịu dàng từ bàn tay nàng từ từ thẩm thấu qua da thịt, xua tan cơn buốt giá. Nhật Duật nhìn chăm chú vào gương mặt thanh tú đượm bụi phong trần của người con gái trước mắt, cõi lòng dâng lên nỗi xúc động sâu lắng. Chàng khẽ thở dài, giọng trầm xuống: “Ba năm trước, cũng trong tiết trời buốt giá này tại biên ải, một toán lính của ta bị phục kích vì súng nổ buồng nòng. Mười tám huynh đệ thân thiết ngã xuống ngay trước mắt ta. Ta từng gào thét đòi điều tra đến cùng, nhưng lại bị tước binh quyền điều về Binh Bộ làm viên chức bàn giấy với một bên chân tàn phế. Suốt ba năm qua, ta ngỡ lòng mình đã nguội lạnh tựa đống tro tàn, chỉ biết ôm mối hận giấu kín...”
Chàng nhìn vào tàn lửa bay lơ lửng, giọng run lên: “Cho đến khi gặp nàng ở xưởng đúc Ngũ Xã. Nhìn thấy nàng kiên cường bảo vệ thanh danh của phụ thân, nhìn ngọn lửa rực sáng trong mắt nàng khi quai búa tôi thép, ta mới hiểu ra rằng: máu xương của tiền nhân đổ xuống không phải để chúng ta ôm hận buông xuôi, mà là để nhắc nhở chúng ta phải cầm chắc vũ khí gìn giữ từng tấc đất bờ cõi.”
Ngọc Cầm dừng tay, ngước nhìn thẳng vào mắt chàng. Dưới ánh lửa bập bùng, đôi mắt nàng lấp lánh ngấn lệ mà trong veo: “Muội hiểu. Cha muội lúc lâm chung từng trăn trối, người thợ đúc súng không sợ lò gang thiêu cháy da thịt, chỉ sợ vũ khí mình làm ra phản bội giang sơn. Đặng huynh, huynh không hề cô độc. Món nợ máu nơi biên thùy năm xưa và nỗi oan của cha muội, hôm nay chúng ta sẽ cùng nhau kết thúc nó.”
Nói đoạn, Ngọc Cầm đưa tay lên mái tóc, nhẹ nhàng rút chiếc trâm cài bằng đồng đen xuống. Chiếc trâm dài bốn tấc, đầu trâm chạm trổ đóa hoa sen thanh khiết đang hé nở, từng đường nét uốn lượn tinh xảo như có sinh khí. Nàng nâng chiếc trâm bằng cả hai tay, trân trọng đặt vào lòng bàn tay phong trần của Nhật Duật: “Chiếc trâm hoa sen này là vật phụ thân đúc tặng muội từ mẻ đồng hợp kim đầu tiên khi muội tròn mười tuổi. Muội luôn mang theo bên mình như bùa hộ mệnh qua bao năm tháng gian nan. Nay muội trao lại cho Đặng huynh làm tín vật tri âm. Có nó bên cạnh, mong huynh giữ trọn niềm tin và sự bình an nơi đầu sóng ngọn gió.”
Nhật Duật nắm chặt chiếc trâm đồng còn vương hơi ấm của mái tóc nàng. Khối kim khí lạnh giá nơi chốn rừng thiêng nước độc lúc này bỗng ấm áp tựa vầng thái dương sưởi ấm tâm can chàng. Chàng nhìn sâu vào mắt nàng, gật đầu thật mạnh: “Được! Có tín vật này của nàng, dù phía trước là hang hùm miệng cọp, Đặng Nhật Duật này thề giữ trọn giang sơn, cùng nàng khải hoàn trở về Thăng Long!”
Khoảnh khắc ấy, giữa ngôi miếu hoang lạnh giá nơi chân đèo Lạng, hai tâm hồn đã hòa chung một nhịp đập son sắt, gắn kết bền chặt hơn ngàn lời thề non hẹn biển.
Sáng sớm ngày thứ ba, khi những tia nắng nhạt nhòa le lói xuyên qua tầng mây xám, đoàn quân đã tiến sát cửa ải Chi Lăng hiểm trở.
Địa hình nơi đây hiểm ác khôn cùng. Hai bên là những dãy núi đá vôi sừng sững dựng đứng như bức tường thành khổng lồ đâm toạc nền trời, thung lũng hẹp dài ngập chìm trong màn sương mây trắng xóa dày đặc. Con đường mòn độc đạo lởm chởm đá tai mèo men theo khe suối cạn dẫn thẳng tới Quỷ Môn Quan — tử địa nghìn năm từng chôn vùi biết bao thây giặc xâm lăng.
Nhật Duật giơ tay ra hiệu toàn quân dừng lại, phân tán ngựa chiến ẩn mình sau rặng cây rậm rạp bên vách đá.
Đúng lúc ấy, một bóng người từ phía trước thoăn thoắt lướt qua màn sương mờ mịt lao về. Đó là thám mã Cấm vệ quân đi tiền trạm thám thính. Người lính th* d*c, quỳ sụp xuống trước mặt Nhật Duật và Lê Cảnh, gấp gáp tâu báo: “Khởi bẩm Đặng quan nhân! Phát hiện tung tích lũ phản nghịch! Trần Hoài Viễn cùng ba tên tử sĩ đang ẩn náu dưới lòng thung lũng đá vôi Quỷ Môn Quan phía trước. Hắn đã hội quân với một toán thiết kỵ ngoại bang hơn trăm tên phục sẵn bên kia biên giới vượt sang tiếp ứng! Lão tặc đang ôm khư khư chiếc tráp gỗ đựng cuộn sơ đồ bảy cứ điểm hỏa lực Chi Lăng, chuẩn bị tiến hành bàn giao cho tên tướng giặc khi sương mù tan bớt!”
Nghe báo cáo, ánh mắt Nhật Duật tóe lên những tia nhìn sắc lạnh như lưỡi kiếm. Chàng siết chặt chuôi Thượng phương bảo kiếm bên hông, cảm nhận chiếc trâm đồng hoa sen của Ngọc Cầm nằm vững chãi nơi ngực áo, tỏa ra luồng sinh lực ấm áp. Chàng quay lại nhìn năm mươi tay súng Cấm vệ quân và Ngọc Cầm. Mọi người đều đã vào vị trí mai phục, nòng súng Thần cơ đời mới đen nhánh lấp lánh ánh thép lạnh dưới làn sương ẩm, then hoa mai đã sẵn sàng vào khớp.
Đúng lúc bầu không khí ngưng đọng đến nghẹt thở ấy, từ sâu trong hẻm núi Quỷ Môn Quan bỗng dội lên một thanh âm quái dị, chói gắt.
Tiếng tù và bằng sừng trâu man rợ của kỵ binh ngoại bang rúc lên từng hồi dồn dập, vang vọng rền rĩ giữa hai vách đá vôi mù mịt sương mây. Tiếng hò hét hung hãn hòa cùng tiếng móng ngựa bọc sắt nện thình thịch làm rung chuyển cả mặt đất thung lũng, báo hiệu trận huyết chiến sống còn nơi ải Bắc đã cận kề trong gang tấc.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
