Chương 15: Hộp Kẽm Dưới Chân Đèn

Máng trượt rung chuyển dữ dội dưới sức nặng của hàng tấn kim loại đang lao xuống. Tiếng gió rít xé không khí kèm theo âm thanh ken két đinh tai nhức óc của những mắt xích khổng lồ đứt phựt khỏi ròng rọc. Trong khoảnh khắc ngàn cân treo sợi tóc, Văn Nhật Quang không hề buông tay. Bản năng của một người thợ buồng tối gắn bó cả đời với từng kỷ vật điện ảnh mách bảo anh rằng nếu buông ra lúc này, chiếc đèn rọi mang theo bí mật năm xưa sẽ tan thành tro bụi dưới đáy lò gang.

Quang bặm chặt môi, dồn toàn bộ sức mạnh còn lại của cánh tay phải giật mạnh chiếc đèn Krokus số ba về phía mình. Nhưng khối chân đế gang nặng trịch vẫn mắc kẹt giữa hai thanh dầm thép chữ I hoen gỉ.

“Anh Quang, lùi lại!”

Một bàn tay rắn như kìm sắt chộp lấy cổ áo bạt của Quang giật lùi về sau. Đại úy Nguyễn Quốc Đạt lao cả thân mình qua gờ chắn trơn trượt, dùng toàn bộ quán tính kéo giật Quang ngã nhào xuống sàn bê tông của chiếu nghỉ máng trượt.

“Rầm!”

Chiếc gàu xúc thép khổng lồ đập sập mép máng trượt đúng vào vị trí Quang vừa đứng. Thép chém vào thép làm tóe ra muôn vàn tia lửa đỏ rực như pháo hoa giữa màn đêm. Sàn xi măng rung chuyển dữ dội, bụi xỉ than và mạt sắt táp bỏng rát vào mặt hai người. Thanh dầm chữ I bị chém vặn vỏ đỗ, bật tung mối hàn. Lực chấn động cực mạnh hất văng khối chân đế chiếc đèn Krokus ra khỏi gờ dầm thép, rơi lăn lông lốc xuống sàn, dừng lại ngay sát ống chân Quang.

Đạt xoay người che chắn cho Quang, tay rút khẩu súng ngắn K54 chĩa thẳng l*n đ*nh tháp cẩu, bóp cò liền hai phát “Đoàng! Đoàng!”

Ánh chớp lửa đầu nòng rạch ngang màn khói than ngột ngạt. Tiếng đạn nổ vang rền giữa không gian xưởng đúc khiến toàn bộ kíp thợ đang hoảng loạn phải sững sờ.

“Công an đây!” Đạt thét lớn qua tiếng gầm rống của quạt gió. “Ngắt cầu dao tổng ngay lập tức! Bất kỳ ai rời vị trí sẽ bị xử lý theo pháp luật!”

Trên cabin, người thợ lái cẩu luống cuống gạt cần ngắt điện khẩn cấp. Tiếng rên xiết của động cơ điện lịm dần, chỉ còn lại tiếng rào rào của phế liệu rơi vãi và tiếng xì hơi nước áp lực cao rít lên từng hồi.

Bả vai trái của Quang nhói buốt dữ dội do cú giật mạnh và chấn thương cũ. Nén cơn đau thấu xương, anh ôm chặt lấy chiếc đèn rọi vào lòng. Lớp sơn men đen mờ bị cào xước nham nhở, nhưng dòng ký hiệu khắc chìm “XPTƯ03” trên vành kim loại của chụp đèn vẫn hiện rõ dưới lớp muội than bám dày.

“Anh có sao không?” Đạt đỡ cánh tay phải của Quang, mắt cảnh giác quét qua bóng tối bãi phế liệu.

“Tôi trụ được,” Quang th* d*c, giọng khàn đặc nhưng ánh mắt sáng rực. “Đèn còn nguyên vẹn. Khối gang chưa bị nứt.”

Tổ trưởng Trần Văn Khoa cùng hai trinh sát vừa thở không ra hơi vừa chạy tới. Nhìn máng trượt bị bẹp dúm trên miệng lò gang đỏ rực, mặt ông Khoa tái mét như chàm đổ, hai đầu gối run lẩy bẩy “Đứt… đứt chốt cáp hãm… Lạy trời, may mà các đồng chí không việc gì…”

“Đứt chốt hay có kẻ phá hoại, chúng tôi sẽ khám nghiệm từng mắt xích!” Đạt đanh thép ngắt lời, quay sang hai trinh sát: “Phong tỏa ngay cabin cẩu số hai, tạm giữ kíp trực để lấy lời khai! Tuyệt đối không để ai tiếp cận hiện trường này!”

“Rõ!” Hai chiến sĩ đồng thanh đáp, lập tức rút vũ khí tiến về phía buồng máy.

Đạt quay lại đỡ Quang đứng thẳng dậy. Khối đèn gang nặng gần chục kilôgam được Quang ôm riết trước ngực như một báu vật vô giá.

“Rời khỏi đây ngay,” Đạt hạ thấp giọng. “Khu vực này không còn an toàn. Chúng ta về trạm công an cơ sở gần nhất để bóc tách vật chứng.”

Dưới sự bảo vệ của các chiến sĩ công an, chiếc Simson đỏ của Đạt nổ máy giòn giã, xé màn sương đêm giá buốt ngoại thành Gia Lâm. Quang ngồi sau, hai chân kẹp chặt chiếc đèn rọi, áo khoác bạt cản từng cơn gió bấc buốt rát thốc vào ngực.

Trạm công an cơ sở nằm bên trục đường liên huyện. Gian phòng trực ban sáng mờ dưới bóng đèn dây tóc sáu mươi oát tỏa ánh sáng vàng dìu dịu. Đạt cài chốt cửa gỗ, kéo rèm che kín ô cửa sổ nhìn ra đường lộ, rồi đặt khẩu K54 đã mở chốt an toàn lên mép bàn gỗ lim lót kính.

Quang đặt khối chân đế gang của chiếc đèn Krokus lên mặt bàn. Toàn bộ phần đế là một khối gang đúc hình tròn đường kính gần ba mươi xăngtimét, dày cộm và nặng ch*ch.

“Đồng chí Đạt, cho tôi mượn chiếc tuốcnơvít hai cạnh cỡ lớn và một lọ dầu hỏa,” Quang nói, ánh mắt dán chặt vào mặt đáy chân đế.

Cán bộ trực ban nhanh chóng mang hộp đồ nghề đến. Quang lật nghiêng chiếc đèn, để lộ mặt đáy bám đầy bụi bẩn và rỉ sét màu nâu sẫm. Ở chính giữa mặt đáy là một nắp kim loại tròn được giữ chặt bởi bốn con ốc vít đầu xẻ rãnh chữ nhất. Đây là nắp khoang đối trọng – nơi nhà sản xuất Ba Lan thiết kế để nhét các thỏi chì dằn tải trọng, giúp toàn bộ chiếc cần vươn của đèn rọi không bị đổ ngửa khi kéo lên cao.

Năm năm nằm trong kho vật tư ẩm mốc của xưởng phim đã khiến các đường ren ốc bị oxy hóa nghiêm trọng. Lớp rỉ sắt bám chặt như hàn chết các đầu ốc vào thân gang xám xịt.Quang cẩn thận nhỏ từng giọt dầu hỏa vào khe rãnh vít. Chất lỏng linh động nhanh chóng len lỏi qua các khe hở vi mô của lớp rỉ sét.

“Đợi ba phút cho dầu thẩm thấu làm rã gỉ,” Quang lẩm bẩm. Ngón tay anh khẽ run lên vì căng thẳng. Bả vai trái giần giật từng cơn đau nhức, nhưng anh cắn răng chịu đựng, không để sự đau đớn chi phối thao tác chuẩn xác của đôi tay.

Đạt đứng tựa mép bàn, ánh mắt sắc sảo chăm chú theo dõi từng cử động của Quang.

Hết ba phút, Quang đặt mũi tuốcnơvít vào rãnh ốc thứ nhất. Anh lấy thêm một chiếc tuốcnơvít khác trong hộp đồ nghề, dùng chuôi gỗ gõ nhẹ ba nhịp dứt khoát l*n đ*nh cán thép để tạo xung lực làm rã rỉ sét bên trong. Sau đó, anh tì cả trọng lượng nửa thân trên vào cán tuốcnơvít, hai tay siết chặt, từ từ xoay ngược chiều kim đồng hồ.

“Két… rắc!”

Một âm thanh khô khốc vang lên. Con ốc thứ nhất nhích đi một phần tư vòng ren, mạt rỉ sắt màu nâu vụn nát rơi lả tả xuống mặt kính. Quang thở phào một hơi ngắn, tiếp tục cẩn trọng tháo nốt ba con ốc còn lại, rồi dùng mũi dao trổ cạy nhẹ mép nắp đậy.

Nắp kim loại bật mở, để lộ khoang rỗng bên trong. Không có bất kỳ thỏi chì đối trọng nào.

Nằm gọn dưới đáy khoang gang xám là một chiếc hộp kẽm dẹt hình chữ nhật, kích thước chỉ nhỉnh hơn bao diêm Thống Nhất một chút. Bề mặt chiếc hộp bị quấn kín mít bằng nhiều vòng băng dính vải dù màu vàng đất – loại băng dính dán ống gió chuyên dụng của các xưởng cơ khí thời bao cấp. Trải qua nửa thập kỷ, lớp keo cao su non của băng dính đã chảy nhờn nhợt, bốc lên mùi hắc nồng của hóa chất lưu hóa thoái hóa.

Quang nín thở. Anh dùng chiếc kẹp y tế đầu nhọn bằng thép không gỉ gắp chiếc hộp kẽm đặt lên tờ giấy thấm màu trắng tinh.

“Bình không nói dối…” Đạt thì thào, lồng ngực phập phồng một nhịp thở dồn. “Hắn thực sự đã giấu nó ở đây.”

“Khoan đã, đừng động tay vào,” Quang giơ tay ngăn Đạt lại. “Băng dính này đã bị lão hóa, nếu giật mạnh sẽ tạo lực kéo làm biến dạng lớp vỏ kẽm mỏng, nghiền nát dải phim nếu đế nhựa đã bị giòn.”

Bằng thao tác khéo léo của một chuyên gia phục chế, Quang dùng mũi dao mổ rạch một đường mảnh dọc theo gờ mép hộp kẽm, nhẹ nhàng bóc từng dải băng dính dính bết để lộ lớp vỏ kẽm xỉn màu.

Bên trong chiếc hộp kẽm là một mẩu giấy thiếc màu bạc lấy từ bao thuốc lá Thăng Long, mép giấy đã ngả màu ố vàng vì ẩm khí.

Quang nhẹ nhàng gạt lớp giấy thiếc sang hai bên.

Dưới ánh đèn điện vàng vọt, một dải phim nhựa 35 milimét màu nâu đen hiện ra trước mắt hai người. Đoạn phim dài chừng bảy đến tám xăngtimét, hơi uốn cong như chiếc lá khô. Mép phim hai đầu vẫn còn nguyên dấu vết cắt sắc ngọt của lưỡi kéo thủ công – hoàn toàn trùng khớp với vết đứt đoạn trên cuộn phim Orwo lưu trữ tại xưởng phim.

Đúng bốn khung hình nguyên bản đã bị cắt xén vào chiều ngày 19 tháng 8 năm 1983!

Bốn khung hình mang theo bí mật về sinh mạng của Viện trưởng Hoàng Thế Côn, bản án mười lăm năm oan khuất của kỹ sư Trịnh Đình Lộc và bộ mặt thật của kẻ thủ ác Vũ Khắc Khiêm.

Đạt khẽ rướn người, toan đưa tay đón lấy dải phim, nhưng Quang đã nhanh chóng dùng chiếc kẹp y tế bọc cao su mềm giữ chặt mép đục lỗ của dải phim, từ từ nâng lên ngang tầm mắt, đưa sát vào bóng đèn sợi đốt để soi thấu quang.

Thế nhưng, khoảnh khắc ánh sáng vàng rọi qua lớp vật liệu trong suốt, trái tim Quang đột ngột thắt nghẹn lại.

Một luồng khí lạnh buốt chạy dọc từ sống lưng l*n đ*nh đầu anh.

Trên mặt phim, lớp nhũ tương gelatin bạc halogenua không còn độ bóng mịn xám bạc đặc trưng của phim Orwo. Hơi ẩm ngưng tụ suốt năm năm trong đáy gang kín khí cùng keo dán phân hủy đã tạo thành môi trường axit ăn mòn khủng khiếp. Mặt đế xenlulô axetat đã cong vênh, co rút lại và giòn rụm như bánh đa nướng; trên bề mặt nhũ tương, những nốt rộp lấm tấm màu trắng đục nổi lên chi chít như vảy nến, chực bong ra thành từng mảng. Tệ hại hơn, các tinh thể bạc kim loại tạo hình đã bị oxy hóa nặng, lớp ảnh tiềm ẩn rạn nứt thành vô số đường nứt chân chim mờ mịt.

Bốn khung hình đang ở trong giai đoạn tự hủy hoại phân tử cực kỳ nguy cấp.

“Anh Quang… sao thế?” Đạt nhận ra sắc mặt trắng bệch của người bạn đồng hành, vội vàng hỏi dồn.

Quang run run hạ chiếc kẹp y tế xuống, giọng anh trầm đặc và run rẩy đến mức gần như nghẹn lại giữa cuống họng “Nhũ tương bạc bị thoái hóa nặng rồi… Gelatin đã bị giòn hóa và bắt đầu bong rộp khỏi đế phim. Nếu không đưa ngay vào buồng tối để ngâm dung dịch phục hồi và tráng rửa c**ng b*c, toàn bộ các hạt bạc hình ảnh trên bốn khung hình này sẽ vỡ vụn thành cát bụi trong vòng hai mươi tư giờ tới!”

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.