Chương 14: Lửa Lò Đúc Đức Giang
Bốn mươi tám tiếng đồng hồ cho chuyến tàu viễn dương tại Cảng Hải Phòng là một chiếc thòng lọng đang siết chặt, nhưng ngọn lửa lò đúc gang bên bờ bắc sông Hồng đêm nay mới là nhát búa trực diện đập vỡ hy vọng cuối cùng. Không tìm lại được bốn khung hình gốc giấu trong chân đế chiếc đèn rọi Krokus số ba, mọi tính toán trắc quang hay góc bóng đổ lệch mười bốn độ sẽ vĩnh viễn chỉ dừng lại ở suy luận lý thuyết trên giấy. Trước Hội đồng Thẩm phán và Viện Kiểm sát, không có vật chứng vật lý nguyên bản, lời buộc tội nhắm vào Vũ Khắc Khiêm sẽ lập tức tan biến trước tấm bình phong ngoại phạm đã được bọc lót kỹ lưỡng suốt năm năm.
Đại úy Nguyễn Quốc Đạt gấp phắt tập hồ sơ sao lục, ngón tay miết mạnh lên mặt bàn gỗ lim của phòng trực kho “Bác Niên giữ nguyên mọi giấy tờ này và niêm phong tủ tài liệu giúp chúng tôi. Mai, cô theo xe công an cơ sở về trụ sở Công an quận Đống Đa, trực tiếp cùng đồng chí chỉ huy trực ban gửi điện tín khẩn tới Công an thành phố Hải Phòng yêu cầu giám sát chặt chẽ kho ngoại quan và toàn bộ tàu hàng chuẩn bị xuất bến. Tuyệt đối không để lộ thông tin về mẫu quặng NX83.”
Hoàng Thị Mai siết chặt cuốn nhật ký bọc da bò của cha trước ngực, đôi mắt sau cặp kính cận tròn ánh lên vẻ lo âu nhưng kiên quyết “Các đồng chí phải cẩn thận. Chú Quang, bả vai chú vẫn còn đau đấy.”
“Chú trụ được,” Văn Nhật Quang siết lại khuy chiếc áo khoác bông trần bên ngoài áo sơ mi bộ đội, giọng đanh gọn. “Nếu chiếc đèn rọi bị nung chảy, sự thật về cái chết của Viện trưởng Côn và bản án mười lăm năm của anh Lộc cũng sẽ thành tro xỉ.”
Chưa đầy ba phút sau, chiếc xe máy Simson màu đỏ của Đạt gầm lên giòn giã giữa làn sương lạnh buốt. Đạt vặn hết ga, chở Quang lao vút qua những con phố Hà Nội đang chìm vào bóng tối thời bao cấp. Gió mùa đông bắc tràn về từng đợt hun hút, thổi rạp những tán xà cừ cổ thụ ven đường Hoàng Diệu và Phan Đình Phùng.
Chiếc xe lao lên dốc cầu Long Biên. Nhịp cầu thép thời Pháp gỉ sét rung bần bật dưới hai bánh xe cơ giới. Gió từ lòng sông Hồng thốc ngược lên mặt buốt như kim châm. Mỗi lần xe xóc qua gờ nối tà vẹt gỗ, bả vai trái bị chấn thương của Quang lại nhói buốt, cảm giác như khớp xương va đập vào vệt máu bầm tím sau vụ cháy buồng tối. Anh nghiến chặt răng, bàn tay phải bọc gạc trắng bám chặt vào khung xe phía sau, mắt đăm đăm nhìn về quầng sáng đỏ rực hắt lên bầu trời đêm phía Gia Lâm.
Hơn hai mươi phút sau, chiếc Simson rẽ ngoặt vào con đường đất lầy lội dẫn vào bãi phế liệu cơ khí Đức Giang. Đây là khu vực tập kết kim loại phế thải rộng hàng ngàn mét vuông, nằm sát khu liên hợp cơ khí và lò nung gang công nghiệp. Khắp nơi ngổn ngang những đống sắt vụn cao như núi: khung xe tải vặn vẹo, xà gồ rỉ sét, đường ray hỏng và vỏ thùng phuy chất đống dưới bóng tối nhờ nhờ.
Hai trinh sát hình sự mặc thường phục từ rặng chuối ven rào lập tức tiến ra đón đầu. Một đồng chí ghé sát cửa kính mũ bảo hiểm của Đạt “Báo cáo Đại úy, tổ mật phục đã kiểm soát cổng ra vào. Chúng tôi vừa giữ chân quản đốc và chủ bãi thu mua. Toàn bộ xe tải nhập hàng từ nội thành trưa nay đều đổ phế liệu ở khu vực lò luyện số hai.”
Đạt nhảy xuống xe, cùng Quang rảo bước vào căn lán lợp tôn xập xệ của ban điều hành bãi phế liệu. Bên trong, một người đàn ông trạc năm mươi tuổi, mặc áo bảo hộ lao động dính đầy dầu luyn đen sì, đang run rẩy đứng trước bàn làm việc.
Đạt đập mạnh cuốn thẻ điều tra viên bìa đỏ lên mặt bàn “Đồng chí là phụ trách bãi giao nhận sắt vụn Đức Giang?”
“Báo cáo cán bộ… tôi là Trần Văn Khoa, tổ trưởng tổ tiếp nhận phế liệu,” người đàn ông lắp bắp, mắt nhìn chăm chú vào khẩu súng ngắn K54 bên hông Đạt. “Tôi chỉ làm theo lệnh chỉ tiêu thu gom kim loại màu và sắt thép vụn của Ty Vật tư…”
“Lô hàng phế liệu sắt tráng men và phụ tùng quang học cũ do đội xe ba gác chuyển từ Xưởng phim Tài liệu trên phố Hoàng Hoa Thám sang đây lúc trưa ở đâu?” Quang bước lên một bước, giọng sắc lạnh như nhát cắt.
Tổ trưởng Khoa giật mình, vội run rẩy lật cuốn sổ kiểm kê bằng giấy bổi ố vàng cài trên chiếc kẹp sắt hoen gỉ. Bàn tay cáu bẩn của ông ta rê qua từng dòng mực tím nguệch ngoạc:“Có… có một chuyến xe ba gác chở đồ kim loại thanh lý của các cơ quan văn hóa, nhập bãi lúc mười một giờ ba mươi trưa. Nhưng… nhưng toàn bộ lô sắt tráng men, chân đèn và vỏ máy hỏng đã bị tổ phân loại đẩy thẳng vào máng nạp liệu của lò đúc gang số hai rồi!”
“Đã nung chưa?” Đạt gắt lên, thanh âm chấn động gian lán tôn.
“Ca lò đêm bắt đầu lúc bảy giờ tối… Nồi gang đang chuẩn bị hạ liệu mẻ đầu tiên!”
Không đợi nghe hết câu, Quang và Đạt cùng hai trinh sát lao bổ ra ngoài màn đêm. Hơi nóng hầm hập kèm theo mùi khét lẹt của than đá nung đỏ và kim loại nóng chảy phả thẳng vào mặt. Trước mắt họ, lò nung gang cao hơn chục mét sừng sững như một quái thú khổng lồ giữa màn sương mù xám đục. Miệng lò rực lên ánh sáng màu cam đỏ chói mắt, từng luồng khói xỉ than đậm đặc cuộn lên trần xưởng cơ khí, cay xè sống mũi và làm buốt rát mi mắt.
Dưới chân tháp lò, một máng trượt nghiêng bằng thép dày nối từ bãi tập kết lên cửa nạp liệu. Hàng tấn phế phẩm sắt vụn, vỏ động cơ vỡ nát, ống kim loại cong queo đang nằm ngổn ngang trên sàn xi măng, chuẩn bị được đưa vào lò nung.
“Bật hết đèn pin lên, rà soát từng mét vuông!” Đạt ra lệnh cho hai chiến sĩ, đồng thời rút chiếc đèn pin vỏ sắt ba pin Con Thỏ rọi thẳng vào đống phế liệu.
Quang nén cơn đau buốt ở bả vai trái, khom lưng sục sâu vào đống kim loại sắc nhọn. Bụi xỉ than và mạt sắt bám ráp rạp vào từng thớ vải áo. Bàn tay anh lật tung những đoạn xích tải rỉ sét, vỏ hộp máy quay phim 16 milimét móp méo và những thanh giằng kim loại cũ nát. Tiếng kim loại va đập leng keng, chát chúa vang lên giữa tiếng rít cơ khí gầm rú của quạt gió công nghiệp thổi than.
Nhiệt độ quanh họng lò lúc này đã lên tới cả ngàn độ C. Từng đợt sóng nhiệt hắt ra hầm hập khiến mồ hôi trên trán Quang túa ra rồi khô khốc ngay tức khắc. Mắt anh cay xè vì khói lưu huỳnh, nhưng đôi mắt của một kỹ thuật viên buồng tối dày dạn kinh nghiệm vẫn không bỏ sót bất kỳ chi tiết quang học nào. Anh biết rõ cấu tạo của chiếc đèn rọi Krokus số ba: chụp đèn hình nón bằng sắt tráng men đen mờ, thân trụ bằng thép mạ crom đã xước, và đặc biệt là khối chân đế đúc bằng gang đặc nặng gần mười kilôgam.
“Anh Quang! Có thấy không?” Đạt hét lớn qua tiếng gầm rống của quạt gió lò đúc.
“Chưa thấy! Phải tìm trên máng trượt nạp liệu!” Quang th* d*c, chỉ tay về phía đường ray dốc dẫn thẳng lên miệng lò nung.
Ánh đèn pin của Quang quét qua một lượt các khối kim loại đang nằm trên mép máng trượt cơ khí. Đột nhiên, vệt sáng vàng nhạt dừng khựng lại trên một vật thể hình nón lấp ló dưới hai thanh dầm thép chữ I hoen gỉ.
Lớp sơn men đen mờ bị cào xước nham nhở hiện ra dưới ánh đèn rọi. Trên vành kim loại của chiếc chụp đèn, dòng ký hiệu khắc chìm đã ngả màu vàng ố vì dầu mỡ và thời gian: “XPTƯ03”.
Chiếc đèn rọi ảnh Krokus số ba của Xưởng phim Trung ương!
Chân đế gang hình tròn của chiếc đèn đang nằm kẹt ngay sát mép cửa máng trượt tự động. Chỉ cần người công nhân gạt cần điều khiển rung máng, toàn bộ đống phế liệu sẽ trút thẳng vào biển gang lỏng đang sủi bọt đỏ rực bên dưới.
“Nó ở đây rồi!” Quang thét lên, thanh âm xé tan tiếng ồn của máy móc.
Quên cả vết thương đang giần giật đau nhức ở bả vai, Quang lao vụt lên các bậc thang kim loại trơn trượt của bệ máng. Anh vươn người qua thành chắn thép, hai bàn tay rướn tới, những đầu ngón tay căng cứng chỉ còn cách gờ chân đế gang chiếc đèn chưa đầy một gang tay.
Nhưng đúng vào tích tắc ngón tay bọc gạc của Quang vừa chạm vào lớp kim loại lạnh ngắt của chân đế, một tiếng còi rú chói tai bất thần xé toạc bầu không khí xưởng đúc. Trên đỉnh tháp, chiếc gàu xúc sắt vụn bằng thép nặng hàng tấn của cần cẩu máy tự hành đột ngột đứt chốt hãm, mang theo cả đống xích sắt khổng lồ lao thẳng từ trên cao xuống, giáng sập thẳng vào vị trí máng trượt nơi Quang đang đứng.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
