Chương 2: Tiếng Gõ Cửa Đòi Nợ

Tiếng quát the thé vừa dứt, then tre mỏng manh liền rung lên bần bật dưới sức ép thô bạo từ bên ngoài. Khương Đại Thành giật bắn mình, vội với lấy chiếc nạng gỗ nghiến dựng cạnh cột, khó nhọc chống chân phải đứng dậy. Manh áo vải thô chắp vá phong phanh dính sát lồng ngực gầy guộc của anh, run lên từng chặp trước luồng gió lạnh luồn qua kẽ liếp.

— Ai... ai gọi ngoài cửa đấy? — Đại Thành cất giọng khàn đặc, tập tễnh bước từng bước nặng nề ra phía trước.

Khương Vĩnh Lạc bật dậy khỏi ổ rơm, vội vươn đôi tay nhỏ nhắn đỡ lấy tấm lưng còng của cụ Trần thị. Cụ bà mù lòa hoảng hốt bấu chặt cổ tay cháu nội, hơi thở nghẹn ứ nơi cuống họng, cố nén cơn hen suyễn đang chực bùng lên vì sợ hãi.

"Rầm!"

Chưa đợi Đại Thành kịp bước tới, cánh liếp nứa xiêu vẹo đã bị một cú đá hung hãn hất tung sang một bên. Gió bấc từ triền sông Trà lập tức ùa vào như thác lũ, mang theo hơi sương giá buốt thấu xương cùng mùi bùn nước lợ tanh nồng, thổi bạt ngọn bấc trong đĩa dầu lạc trên chõng tre.

Một bóng người to béo lừng lững bước qua ngưỡng cửa, theo sau là hai tên gia đinh lực lưỡng tay cầm đuốc nứa, tay lăm lăm gậy gộc bặm trợn. Ánh đuốc đỏ quạch rọi sáng gian nhà tranh rách nát, phơi bày cảnh nghèo xơ xác: chiếc phản nứa ọp ẹp, ổ rơm lót sàn xẹp lép bốc mùi ẩm mốc, và chiếc bát sành mẻ miệng dính chút cặn cháo loãng.

Kẻ xông vào chính là Bá Hộ Đặng. Giữa cữ rét buốt cắt da cắt thịt, lão khoác chiếc áo dạ màu mỡ gà lót lông cừu ấm sực, cổ quàng dải khăn lụa dày, ngón tay béo múp mang chiếc nhẫn ngọc sáng loáng. Lão đưa chéo áo che mũi vẻ khinh miệt, quét đôi mắt ti hí khắp gian nhà tối tăm rồi dừng lại trên người Khương Đại Thành.

— Thằng thợ mộc cụt! Mày điếc hay sao mà để ông đây phải gọi đến ba hồi bảy lượt giữa đêm hôm gió máy thế này hả? — Bá Hộ Đặng trịch thượng hất hàm.

Đại Thành siết chặt bàn tay chai sần vào nạng gỗ nghiến, nuốt cay đắng cúi đầu thấp giọng — Thưa bá hộ... Đêm hôm gió bấc buốt giá, chẳng hay ông Đặng đến tệ xá có việc gì dạy bảo thảo dân?

— Việc gì à? — Bá Hộ Đặng cười khẩy một tiếng khô khốc, cái bụng phệ rung lên dưới lớp áo dạ. — Mày lại tính giở trò giả ngô giả ngơ để trốn nợ đấy phỏng? Hôm nay đã là mùng năm tháng Chạp rồi! Món nợ cũ năm lạng bạc trắng từ bốn năm trước mày tính dây dưa đến bao giờ?

Dứt lời, lão thò bàn tay mập mạp vào trong bọc áo, rút ra tờ giấy bản màu vàng ố đã sờn mép rồi giơ thẳng trước mặt Đại Thành. Dưới ánh đuốc bập bùng, Lạc nhìn rõ dấu điểm chỉ đỏ thẫm như vết máu khô ở góc tờ văn khế — ấn ký mà cha cậu cắn răng ấn xuống bốn năm trước để có tiền mua thuốc cưa chân giữ mạng.

— Giấy trắng mực đen rành rành đây! — Giọng Bá Hộ Đặng đanh lại. — Hạn chót là ngày hăm ba tháng Chạp, đúng ngày tiễn ông Công ông Táo chầu trời! Đến ngày đó, nếu mày không nôn đủ năm lạng bạc nguyên chất cùng tiền lãi cho ông đây, thì ba sào đất bãi bồi hương hỏa ngoài bến sông Trà lập tức thuộc về họ Đặng!

Nghe đến hai chữ “siết đất”, Đại Thành run rẩy suýt đánh rơi chiếc nạng. Sắc mặt anh tái mét, khó nhọc lê chiếc chân cụt về phía trước nửa bước, khom lưng van vỉ:— Bá hộ đèn trời soi xét, thương tình làm phúc cho cha con tôi... Mùa đông năm nay cữ bấc thổi quá dữ dội, nước sông Trà buốt giá, làng trên xóm dưới chẳng ai thuê đóng đồ. Tôi cụt chân chỉ biết vót nan đan rổ đổi vài đấu cám nấu cháo... Mẹ già lại mang bệnh hen suyễn, con thơ vừa dứt cơn sốt thập tử nhất sinh. Xin ông Đặng mở lòng từ bi, cho cha con tôi khất nợ qua mùa xuân ấm áp. Sang xuân tôi xin đi làm thuê làm mướn, cày sâu cuốc bẫm trả dần từng đồng tiền kẽm cho ông...

— Mùa xuân? — Bá Hộ Đặng nhổ toẹt bãi nước bọt xuống nền đất ẩm, cay nghiệt mỉa mai. — Thằng thợ mộc tàn phế một chân như mày thì làm nổi trò trống gì? Ai thèm thuê ngữ cụt chân như mày? Ông đây mở kho thóc cho vay chứ có phải bà mụ làm việc thiện đâu mà thư với thả! Không có bạc thì cuốn xéo khỏi bãi bồi, dọn đi đâu thì dọn!

Lời miệt thị độc địa như nhát dao đâm thẳng vào lòng tự trọng của người cha. Khương Vĩnh Lạc nhìn thấy những đường gân xanh trên trán cha giật lên từng hồi. Bàn tay Đại Thành bấu chặt vào thân nạng nghiến đến mức các khớp ngón trắng bệch, cả thân người gầy guộc run lên vì phẫn uất, nhưng anh chỉ biết cắn chặt môi rớm máu để nuốt giận vào trong, bởi phía sau lưng anh còn mẹ già mù lòa và đứa con thơ đói khát.

Từ trên phản nứa, cụ Trần thị run rẩy lần tìm trong hư không, mếu máo van lơn — Ông bá hộ ơi... ba sào bãi bồi là mồ hôi nước mắt của tổ tiên họ Khương để lại... Xin ông rủ lòng thương già này với con trẻ mà chừa cho chúng tôi một mảnh đất cắm dùi...

— Câm miệng mụ già lòa! — Một tên gia đinh đứng cạnh quát lớn, dộng mạnh cán gậy xuống nền đất nghe “thình” một tiếng đầy đe dọa.

Khương Vĩnh Lạc vội ôm chặt lấy bờ vai gầy nhỏ của bà nội, khẽ vuốt ngực giúp cụ nén cơn hen nghẹn ứ. Cậu nép mình sau lưng bà, nhưng đôi mắt to đen láy lại chăm chú quan sát từng nét mặt của Bá Hộ Đặng.

Cậu nhận ra, khi nhắc đến “ba sào đất bãi bồi”, đôi mắt hí của tên hào trưởng không chỉ lộ vẻ hung hãn đòi nợ, mà còn ánh lên tia sáng tham lam tột cùng. Lão Đặng liếc nhìn qua khung cửa liếp toang hoác, hướng tầm mắt về phía triền bãi bồi nơi có khúc sông sâu và phẳng lặng nhất làng Yên Giang.

Sự am hiểu sâu sắc về bến bãi mách bảo cho Vĩnh Lạc toàn bộ dã tâm: Doi đất ba sào của nhà họ Khương nằm ngay khúc sông nước sâu lòng rộng, thuyền buôn chở bông vải từ trấn trên xuôi về đều phải ghé lại. Tên phú hộ muốn nuốt trọn bãi bồi để dựng kho bãi và bến bốc dỡ hàng riêng, cấu kết với lái buôn lũng đoạn nguồn bông vụ rét hòng đẩy giá chăn áo lên trời để vắt kiệt dân nghèo. Món nợ năm lạng bạc chỉ là cái cớ, còn thời hạn hăm ba tháng Chạp chính là cái bẫy dồn nhà cậu vào đường cùng để cướp trắng đất tổ tiên.

Nắm tay nhỏ thó của Lạc siết chặt trong lớp áo tơi lá cọ. Lòng cậu trào dâng một ngọn lửa kiên định: Nhất định không thể để mưu mô bẩn thỉu của lão thành hiện thực!

Thấy Đại Thành câm lặng cúi đầu, Bá Hộ Đặng đắc thắng ném mạnh tờ văn khế xuống mặt chõng tre rách, tiếng giấy đập vào nan tre khô khốc — Văn khế tao để lại đây cho mày mở mắt ra mà nhìn! Nhớ cho kỹ, từ giờ đến ngày hăm ba tháng Chạp còn chưa đầy hai mươi ngày nữa thôi! Đúng giờ ngọ hôm đó, không có đủ năm lạng bạc trắng trao tận tay thì dắt díu nhau cút khỏi xóm Cồn Bãi! Khi ấy, ba sào bãi bồi này sẽ cắm biển họ Đặng, đừng trách ông đây cạn tình cạn nghĩa! Chúng mày, về!

Bá Hộ Đặng hừ lạnh rồi phất tay áo dạ quay ngoắt người bước ra ngoài. Hai tên gia đinh đạp mạnh cánh liếp xiêu vẹo rồi sải bước theo sau, tiếng bước chân giẫm lạo xạo trên sỏi đá xa dần trong màn đêm, hòa cùng tiếng đàn chó xóm bãi sủa ran rợn người.

Gian nhà tranh xiêu vẹo trở lại vẻ tĩnh mịch đến nao lòng. Gió bấc lại thốc qua kẽ liếp vỡ, thổi tạt ngọn đèn dầu lay lắt chỉ còn một chấm đỏ cô độc. Tờ văn khế ố vàng nằm trơ trọi trên chõng tre, với kỳ hạn chưa đầy hai mươi ngày ngắn ngủi, tựa như tảng đá ngàn cân vô hình đè nghẹt thở lên mái nhà nghèo giữa đêm đông buốt giá.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.