Chương 16: Chợ Phiên Trấn Thượng

Khương Đại Thành nhìn người bạn chài xốc vác, rồi đưa mắt nhìn xuống chiếc chân cụt gác bên nạng gỗ nghiến, trong lòng thoáng chút đắn đo: — Chú Vạng nói phải, nhưng gom cả đệm xóm dệt mấy hôm nay cùng mớ đệm mới dệt thêm cũng chỉ được năm mươi tấm, liệu mang lên chợ huyện có đổi được bạc trắng không? Món nợ năm lạng của lão Bá hộ treo lơ lửng, ngày hẹn thì cận kề...

Vĩnh Lạc bước tới, khẽ níu lấy vạt áo chàm bạc phếch của cha, ngước đôi mắt trong veo nhìn hai người lớn: — Cha đừng lo. Đệm xốp của xóm mình ấm hơn ổ rơm mục, bền dai hơn chiếu thường, lại dệt nổi chữ An chữ Thọ trang nhã. Trời buốt giá thế này, ai cũng cần hơi ấm. Sớm mai phiên chợ trấn Thượng vào hội rằm tháng Chạp, ta cứ đem đi, ắt tìm ra đường sống.

Thấy vẻ chững chạc và ánh mắt vững vàng của đứa trẻ sáu tuổi, nỗi âu lo trong mắt Đại Thành tan biến. Chú Ba Vạng cũng cười vang, vỗ bôm bốp vào bờ vai vạm vỡ: — Cháu Lạc nói chí phải! Cứ để thằng Vạng này lo liệu việc sông nước!

Canh tư ngày rằm tháng Chạp, khi sương muối còn giăng mờ mịt trên dòng sông Trà buốt giá, thuyền nan chở năm mươi tấm Đệm An Thọ lặng lẽ rời bến. Từng tấm đệm được cuộn tròn, bọc kín lá chuối khô tránh sương ẩm. Chú Ba Vạng gồng mình cắm sào ngược dòng, Đại Thành ngồi giữ hàng bên nạng gỗ nghiến, còn Vĩnh Lạc nép bên mạn thuyền dõi mắt nhìn đôi bờ sông mờ ảo.

Trời vừa hửng sáng, thuyền cập bến chợ huyện trấn Thượng. Thuyền bè chở hàng Tết từ các ngả đổ về ken đặc bến sông, người mua kẻ bán tấp nập. Ba người nhanh chóng chuyển các kiện đệm lên bờ. Nhờ chú Ba Vạng tháo vát, họ chọn được khoảng đất trống ngay lối vào cổng chợ phiên, nơi dòng người qua lại đông đúc nhất, rồi dựng sạp hàng nhỏ trải ba tấm Đệm An Thọ lên chiếc chõng tre làm mẫu.

Gió bấc rít từng hồi buốt nhói qua cổng chợ, mang theo cái rét căm căm khiến khách đi chợ ai nấy đều co ro trong manh áo tơi lá cọ hay những chiếc áo vải thô chắp vá. Đúng lúc ấy, sắc nâu cánh gián trầm ấm của những tấm đệm trên chõng bỗng hút lấy ánh nhìn mọi người. Hai chữ “An” và “Thọ” dệt bằng tơ chuối đỏ thắm nổi bật giữa nền cói nâu, vuông vắn và trang nhã.

Một bà lão dắt theo đứa cháu nhỏ đang run rẩy vì lạnh bỗng dừng bước, tò mò chạm tay vào mặt đệm rồi thốt lên: — Ối chao! Chiếu gì mà dày dặn thế này? Sờ vào êm như nệm, lại ấm sực cả bàn tay!

Tiếng gọi của bà lão lập tức kéo đám đông xúm lại. Khách đi chợ phiên chen nhau xòe tay sờ thử. Ai nấy đều trầm trồ kinh ngạc. Tấm đệm dày gần hai đốt ngón tay, cọng cói xốp khít rịt dưới đường dập chắc nịch của khổ gỗ nghiến. Khi áp tay xuống, chất cói xốp ngậm hơi ấm tỏa ra, không hề buốt lạnh như chiếu thường, lại phảng phất hương củ nâu và vỏ bàng thanh sạch chống ẩm hàn.

— Đệm dệt bằng thứ gì mà lạ thế hả bác thợ mộc? Lại dệt nổi chữ Thọ chữ An trang nhã quá!

Đại Thành nhìn con trai. Vĩnh Lạc liền lễ phép thưa: — Thưa các bác, đệm này dệt từ cói nước lợ phơi sương và sợi tơ chuối bãi bồi. Ruột cói xốp ngăn hàn khí từ đất, sợi tơ chuối giữ chặt đường dệt, lại nhuộm củ nâu kháng ẩm, nằm ấm không kém chăn bông đâu ạ.

— Thế giá bán thế nào?

Đại Thành dõng dạc đáp: — Thưa bà con cô bác, chúng tôi làm đệm cốt để giúp nhau qua mùa rét. Mỗi tấm đệm chữ An chữ Thọ này chỉ lấy ba tiền kẽm!Đám đông ồ lên kinh ngạc. Ba tiền kẽm một tấm đệm ấm, chỉ bằng một phần năm giá chăn bông vải mà phường buôn của Bá hộ đang đẩy lên trời! Giữa cữ rét cắt da cắt thịt, mức giá ấy như phao cứu sinh cho người nghèo.

— Bán cho tôi một tấm chữ Thọ! — Tôi lấy hai tấm! — Để cho tôi ba tấm, tiền kẽm đây!

Tiền kẽm leng keng rộn rã. Chú Ba Vạng cùng Đại Thành cuống cuồng cuộn đệm giao khách, còn Vĩnh Lạc thoăn thoắt đếm tiền xếp vào sọt mây. Chỉ trong hai tuần hương, năm mươi tấm Đệm An Thọ bán sạch veo. Khách đến muộn tiếc ngẩn ngơ, nhao nhao hẹn phiên sau.

Đúng lúc ấy, hai thương lái lớn mặc áo gấm rẽ đám đông bước vào. Một người sờ nắn kỹ tấm đệm mẫu, mắt sáng lên: — Đệm này vừa dày ấm lại dệt chữ cát tường. Bác thợ mộc, ta muốn đặt hai trăm tấm giao trước ngày hai mươi tháng Chạp để chuyển lên tỉnh, bác kham nổi không?

Người đi cùng cũng chen vào: — Ta lấy thêm một trăm tấm nữa, giá cả giữ nguyên!

Nói đoạn, hai thương gia rút từ túi gấm ra bốn thỏi bạc nén trắng tinh đặt cộp xuống mặt chõng tre: — Bốn lạng bạc này là tiền cọc. Đúng hẹn, chúng ta cho xe ngựa xuống tận bến Cồn Bãi bốc hàng!

Đại Thành nhìn bốn thỏi bạc trắng ngời, ngực nghẹn ngào, bàn tay chai sạn run run chưa dám chạm vào.

Vĩnh Lạc đứng bên, lòng trào dâng niềm hân hoan. Cậu đưa mắt nhìn sang dãy phố buôn cách đó không xa. Cửa hiệu bông vải của Bá Hộ Đặng mở toang nhưng vắng ngắt không bóng người mua. Từng chồng chăn bông đắt đỏ ế ẩm chất đống phủ bụi, trong khi khách mua và tiểu thương lũ lượt kéo sang tìm đệm cói họ Khương. Quản gia Đặng Phúc đứng trước hiên, mặt mày xám ngoét nhìn hàng họ Đặng ế chỏng trơ.

Thu dọn sạp hàng, ba người trở lại bến sông. Đại Thành cẩn thận bọc bốn thỏi bạc nén cùng túi tiền kẽm trong vạt áo, rưng rưng nhìn con trai: — Lạc nhi ơi... gom chỗ bạc cọc này với tiền bán đệm, nhà ta có đường sống rồi con ơi! Ba sào bãi bồi của tổ tiên giữ được rồi!

Nhưng niềm vui chưa trọn thì một bác phu đò quen mặt hớt hải chạy tới, ghé sát tai Đại Thành và chú Ba Vạng, giọng thở không ra hơi: — Bác Thành, chú Vạng ơi, tai vạ rồi! Ban nãy tôi thấy lão Bá Hộ Đặng ngồi kiệu tức tốc lên nha môn phủ huyện, đệ đơn vu cáo nhà họ Khương trốn nợ, lại tố xóm bãi tụ tập làm loạn, đòi quan huyện sai lính về tịch thu ba sào bãi bồi ngay trước Tết đấy!

Đại Thành chết lặng, nụ cười trên môi đông cứng lại, bàn tay đang giữ bọc bạc bỗng siết chặt lấy thân nạng gỗ nghiến.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.