Chương 15: Sắc Nâu Thảo Mộc

Gió bấc vẫn ràn rạt thổi qua khe vách nứa, mang theo hơi buốt lạnh từ mặt sông Trà hắt vào gian nhà. Khương Đại Thành ngồi lặng người bên khung cửi tre, bàn tay thô ráp ghì chặt mép gỗ nghiến đến trắng bệch các đầu ngón. Chín ngày nữa là tới giờ Ngọ ngày hăm ba tháng Chạp. Năm lạng bạc nợ cũ tựa như một tảng đá ngàn cân đè nặng lên từng nhịp thở của người thợ cả.

Khương Vĩnh Lạc siết nhẹ vạt áo chàm vương mùi mạt cưa của cha, cất giọng rành rọt mà ấm áp: — Cha đừng nóng ruột. Đệm cói xốp của nhà mình dệt ra ấm thật, nhưng nếu chỉ là cói mộc vàng úa thế này, người khá giả trên trấn Thượng nhìn vào sẽ chê là đồ của kẻ hàn vi, chẳng nỡ rút bạc trắng ra mua đâu.

Đại Thành giật mình quay lại, đôi mắt trũng sâu nhìn đứa con trai sáu tuổi: — Ý con là sao, Lạc nhi? Đệm dày dặn, ấm áp gấp đôi chăn bông thế này, chẳng lẽ dân buôn lại chê?

— Nhà giàu chuộng vẻ sang trọng và điềm lành đón năm mới, cha ạ. Họ nằm sập gụ, giường khảm xà cừ, không đời nào ưng trải một tấm chiếu đệm thô ráp, nhạt màu. Ta phải nâng manh cói xóm bãi thành thứ đệm quý, vừa bền chắc, vừa có sắc màu trang nhã lại mang ý nghĩa cát tường. Có thế, các hiệu buôn trên trấn mới chịu bỏ bạc nén ra tranh nhau mua.

Lời nói chững chạc của Lạc như mở ra một khung trời mới giữa cơn bế tắc. Đại Thành tròn mắt nhìn con, vẻ mặt giãn dần ra: — Nhưng... nhà ta lấy đâu ra tiền mua phẩm nhuộm của người ta?

Lạc mỉm cười, ánh mắt lấp lánh tự tin: — Đất trời bến sông và gò đồi cho ta đủ cả, chẳng tốn một đồng kẽm nào đâu cha.

Ngay trưa hôm ấy, theo lời dặn của Lạc, thím Bảy Xoan cùng mấy người phụ nữ trong xóm bãi xách giỏ lên mạn gò đồi ven rừng đào củ nâu già, rồi men theo các bờ mương nhặt những bao vỏ bàng rụng khô khốc.

Gian chái bếp nhà họ Khương đỏ lửa rực rỡ suốt buổi chiều. Lạc hướng dẫn thím Bảy cạo sạch lớp vỏ sần sùi của củ nâu, đem giã nhuyễn cùng vỏ bàng khô trong cối đá. Mùi chát nồng, ngai ngái của nhựa cây nhanh chóng lan tỏa khắp gian nhà. Lạc cho trút tất cả vào chiếc chảo gang lớn ngập nước, nổi lửa đun sôi sùng sục suốt hai tuần hương. Nước trong chảo từ màu vàng nhạt dần chuyển sang màu đỏ sẫm rồi ngả thành một thứ nước cốt nâu sánh đậm đà.

Nhưng để sắc màu ăn sâu vào từng thớ cói mà không phai bạc khi gặp sương giá, Lạc biết cần phải có chất giữ màu tự nhiên. Cậu bảo chú Ba Vạng lội xuống lạch nước lợ, xúc lên mấy vốc bùn non mịn màng dưới đáy sâu phù sa sông Trà, rồi đem hòa cùng một gáo nước phèn chua lấy từ góc lu nước mưa cũ.

— Thím Bảy, thím ngâm từng bó cói xốp vào chảo nước vỏ bàng củ nâu này trước, để chất chát ngấm đẫm vào các khoang rỗng bên trong thân cói. Sau đó mới vớt ra, nhúng qua nước bùn non và phèn chua rồi ủ kín trong bồ tre.

Thím Bảy Xoan thoăn thoắt đôi tay gầy lam lũ, vừa làm vừa tấm tắc kinh ngạc: — Cháu Lạc ơi, củ nâu người ta chỉ hay nhuộm áo vải thô, sao cháu lại nghĩ ra đem nhuộm cói dệt đệm thế này? Mà lạ chưa kìa, cói vừa nhúng bùn non vớt lên đã đượm màu trầm hẳn xuống!

Sau một đêm ủ kỹ và hong qua gió bấc khô hanh ngoài bãi, những cọng cói xốp ban đầu vốn vàng vọt úa tàn nay đã biến hóa kỳ diệu. Từng cọng cói khoác lên mình sắc nâu trầm cánh gián bóng bẩy, óng ả như màu gỗ gụ lau dầu. Khi áp tay vào, cọng cói không chỉ xốp nhẹ dẻo dai mà còn phảng phất hương thơm thảo mộc thanh sạch, xua tan hoàn toàn mùi ẩm mốc khó chịu giữa cữ nồm đông buốt giá.Sáng hôm sau, ánh mặt trời le lói rọi qua liếp cửa, soi tỏ khung cửi tre hai go sừng sững giữa gian nhà.

Đại Thành ngồi vững vàng trên chiếc ghế mộc, chân phải đặt lên bàn đạp go tre, tay cầm cần lắc đối trọng. Hàng trăm sợi tơ chuối trắng ngà dẻo dai đã được căng đều tăm tắp làm sợi dọc chịu lực. Để tấm đệm thêm phần rực rỡ, Lạc còn bảo thím Bảy lấy một mớ tơ chuối nhỏ ngâm riêng trong nước vỏ bàng đậm đặc để nhuộm thành những con suốt tơ mang sắc đỏ thắm mộc mạc.

— Giờ ta dệt hoa văn, thím Bảy nhé, — Lạc đứng bên khung cửi, cẩn thận chỉ vào từng hàng sợi tơ dọc. — Cứ mỗi nhịp cha đạp mở miệng go tre, thím luồn cây tra cọng cói nâu vào làm nền. Nhưng ở quãng giữa, thím nhấc các sợi dọc này lên theo số đếm của cháu, cài thoi tơ chuối đỏ qua lại để đan nổi chữ.

Thím Bảy Xoan chăm chú nghe từng lời chỉ dẫn, đôi mắt sáng lên vẻ thán phục. Theo nhịp đếm rành rọt của Lạc, những ngón tay khéo léo của thím luồn thoi, bắt sợi chuẩn xác đến từng kẽ tơ.

“Cạch... cạch... cạch...”

Tiếng khổ đập gỗ nghiến trong tay Đại Thành dập xuống chắc nịch, dứt khoát. Từng sợi cói nâu cánh gián ép chặt vào nhau, ôm trọn lấy lớp sợi tơ chuối bền bỉ. Dưới sự phối hợp nhịp nhàng giữa người thợ mộc tật nguyền và người đàn bà xóm bãi thạo việc đan lát, hoa văn tinh tế dần hiện hình trên mặt cửi.

Giữa nền cói màu cánh gián trầm ấm, sang trọng, hai chữ “An” và “Thọ” vuông vức, uyển chuyển nổi bật lên bằng sắc đỏ thắm của tơ chuối rừng. Chữ An cầu chúc cho xóm làng bình an qua cơn gió rét, chữ Thọ chúc cho người già trường thọ đón xuân sang. Từng nét chữ đan kết sắc nét, vuông thành sắc cạnh, chung quanh còn viền thêm những đường gợn sóng giản dị mà trang nhã.

Cụ Trần thị ngồi bên bậu cửa, đôi bàn tay nhăn nheo run rẩy lần theo từng đường dệt vừa rời khỏi trục cuốn. Khi những ngón tay chạm vào bề mặt đệm dày dặn, mịn màng và cảm nhận rõ nét gờ nổi của chữ An chữ Thọ giữa tấm chiếu ấm, hai hàng nước mắt đục mờ lại ứa ra trên khóe mắt người bà mù lòa: — Trời Phật che chở... Tấm đệm êm ấm quá, lại thơm tho như hương đất trời đồng bãi. Đẹp đẽ thế này, nhà quyền quý trên trấn Thượng nhìn thấy ắt phải mê mẩn thôi con ơi!

Đến đầu giờ Thân, đường thoi cuối cùng được cài chặt, Đại Thành dùng con dao bài sắc ngọt cắt dứt mối tơ, cẩn thận nâng tấm đệm rời khỏi khung cửi.

Tấm “Đệm An Thọ” dày dặn gần hai đốt ngón tay, dài đúng sáu thước mộc, bề mặt mịn màng êm ái tựa như một tấm nệm gấm phương xa. Sắc nâu cánh gián bóng khỏe quyện cùng hai chữ An Thọ đỏ thắm khiến cả gian nhà tranh nghèo nàn bỗng chốc sáng bừng lên vẻ ấm cúng, sang quý lạ thường.

Đúng lúc ấy, cánh liếp nứa bật mở, chú Ba Vạng vác cây đòn gánh tuần tra từ bờ sông bước vào. Vừa đảo mắt nhìn thấy tấm đệm trải rộng giữa chõng tre, người thợ chài vạm vỡ liền đứng sững như trời trồng, hai mắt trợn tròn kinh ngạc. Chú bước vội tới, run run đưa bàn tay chai sạn vuốt dọc mặt chiếu, rồi bất thần vỗ đùi đánh đét một tiếng vang rền: — Trời đất quỷ thần ơi! Đẹp thế này thì lũ lái buôn trên trấn Thượng tranh nhau vác bạc nén đến mua là cái chắc! Anh Thành, cháu Lạc ơi, ngay sớm mai để thằng Vạng này chèo ngay một chuyến thuyền nan chở hàng lên chợ phiên trấn trên chào bán, xem quân chó săn của Bá hộ còn dám nghênh ngang dọa siết đất nữa không!

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.