Chương 12: Manh Chiếu Dệt Đầu Tiên

Bàn chân lành của Khương Đại Thành đạp mạnh xuống thanh cật tre đực bên dưới, đồng thời tay phải anh kéo giật tao dây nối với con lắc gỗ nghiến treo trên xà ngang.

Một tiếng “cạch” khô giòn vang lên giữa gian nhà vắng. Hai go cửi bằng tre già chuyển động so le, kéo theo hàng trăm sợi tơ chuối mở toang thành một khoảng trống vuông vức, thẳng tắp.

Khương Vĩnh Lạc đứng sát bên sườn khung, hai bàn tay nhỏ nhắn thoăn thoắt đón lấy cọng cói nước lợ phơi sương vàng óng, đặt ngay ngắn vào rãnh thoi tre. Đôi mắt cậu bé sáu tuổi sáng ngời, chăm chú quan sát từng cử động của cha. Chiếc thoi tre lướt nhẹ qua miệng go mở rộng, kéo cọng cói nằm êm ru giữa hai làn tơ trắng ngà.

— Dập đi cha! — Lạc khẽ giục.

Đại Thành buông tay kéo, con lắc gỗ đung đưa kéo hai cánh go trở về thế khép miệng. Bàn tay chai sần của người thợ mộc nắm chặt thanh khổ đập gỗ nghiến nặng trịch, dứt khoát giằng mạnh về phía lòng mình “Kịch!”

Tiếng gỗ nghiến dập xuống vang lên trầm đục, chắc nịch. Lạc nín thở nhìn chằm chằm vào điểm tiếp xúc. Cậu nhớ như in buổi chiều hôm trước, sợi gai mục đã đứt phụt và cọng cói giòn gãy nát bấy dưới sức nặng của thanh gỗ này. Nhưng lần này, điều kỳ diệu đã xuất hiện. Nhờ lớp dầu lạc thoa đều giúp giữ ẩm và độ dẻo dai vốn có sau khi đun qua nước tro bếp, hàng sợi dọc tơ chuối căng bật lên như dây đàn rồi ôm chặt lấy thân cói. Cọng cói nước lợ phơi sương chỉ khẽ lún lại ở những chỗ tơ tỳ qua, phần ruột xốp rỗng bên trong phồng lên, ken khít vào nhau thành một khối dày dặn mà không hề dập nát.

Đại Thành ngây người nhìn đường dệt đầu tiên thẳng tắp, bờ ngực phập phồng sau làn áo nâu vá víu. Anh cúi xuống, đưa những ngón tay thô ráp run rẩy miết nhẹ lên mối dệt.

— Được rồi… Lạc nhi, tơ chuối chịu được lực dập của gỗ nghiến rồi con ơi! — Giọng Đại Thành nghẹn lại, đôi mắt trũng sâu ánh lên niềm vui sướng tột cùng.

Từ góc chõng tre, cụ Trần thị hướng đôi mắt đục mờ về phía tiếng gõ đanh gọn, hai bàn tay gầy guộc chắp lại trước ngực lầm rầm khấn vái tổ tiên.

— Tạ ơn trời đất… Mẹ nghe tiếng thoi chạy êm lắm, không còn tiếng sợi đứt lạo xạo như hôm trước nữa.

Lạc mỉm cười, lòng trút bỏ được tảng đá nặng trĩu. Cậu nhanh nhẹn bốc một nắm cói xốp đưa thêm cho cha — Sợi chuối dai bền như gân trâu, còn ruột cói thì giữ hơi ấm lại bên trong. Cha con mình dệt tiếp thôi cha, đêm nay phải xong tấm chiếu đệm này mới được.

Gian nhà tranh vách nứa dường như quên đi cái rét căm căm đang rít từng hồi ngoài bãi sông. Dưới ánh đèn dầu tù mù đặt trên bậu cửa sổ, nhịp điệu lao động bắt đầu vang lên đều đặn.

“Cạch – vút – kịch!”

Mỗi nhịp chân đạp là một lần go cửi mở lối; mỗi cái vung tay giật con lắc là một đường thoi cói lướt qua; mỗi cú dập của khổ gỗ nghiến lại nén chặt thêm một lớp hơi ấm vào lòng manh chiếu. Chiếc ghế mộc có tựa lưng gắn chặt vào khung giữ cho Đại Thành một tư thế vững vàng, không còn lo chới với trượt ngã. Dù lưng áo anh ướt đẫm mồ hôi giữa đêm đông buốt giá, nhưng từng nhát dập vẫn chuẩn xác, nhịp nhàng như hơi thở.

Lạc đứng bên cạnh, thoăn thoắt lựa những cọng cói đều đặn nhất trao cho cha. Đôi bàn tay nhỏ bé của cậu lạnh buốt vì sương muối lọt qua khe liếp, nhưng ánh mắt chưa từng rời khỏi mặt cửi dệt. Cậu khẽ nhắc cha ghìm bớt lực ở mép biên để sợi tơ chuối không làm co rúm biên chiếu, lại chỉ cha cách chèn so le các gốc cói to nhỏ để mặt đệm phẳng phiu như tấm ván bào.

Thời gian trôi qua lặng lẽ theo từng tuần hương. Tiếng gà xóm Cồn Bãi le te gáy gọi canh tư trong màn sương mịt mùng.

Khi thanh chốt hãm của trục cuốn tre đực xoay tròn nốt vòng cuối cùng, Đại Thành dùng con dao bài cẩn thận rọc đứt những mối tơ néo lại. Hai cha con cùng nâng tấm chiếu đệm vừa rời khung, kính cẩn trải rộng lên chiếc chõng tre mục trước mặt cụ Trần thị.

Tấm đệm cói xốp hoàn chỉnh dài đúng sáu thước mộc, rộng ba thước mộc, dày dặn gấp đôi chiếc chiếu cói thông thường. Bề mặt chiếu vàng ươm màu nắng nhạt, nổi bật những đường gân tơ chuối trắng ngà đan cài đều tăm tắp. Một mùi thơm thanh dịu của cói non quyện với hương ngai ngái mộc mạc của thân chuối bốc lên ngào ngạt.

Lạc áp hai bàn tay nhỏ bé lên mặt chiếu. Cậu cảm nhận rất rõ hơi ấm từ lòng bàn tay vừa truyền xuống đã lập tức được các khoang xốp bên trong thân cói giữ trọn lại, tạo thành một tầng đệm êm ái, chặn đứng hoàn toàn hơi lạnh ẩm ướt bốc lên từ nền đất.

Cụ Trần thị lần mò quỳ xuống bên mép chõng, run rẩy xoa khắp mặt chiếu. Bàn tay cả đời làm ruộng của người bà mù lòa run lên bần bật:— Lạy trời lạy phật… Sao mà nó dày, nó êm thế này! Cả đời già này chưa từng sờ thấy manh chiếu nào ấm sực đến nhường này, Đại Thành ơi…

Đại Thành quỳ thụp xuống bên mẹ, ôm lấy đôi vai gầy guộc của bà, khóe mắt người đàn ông dãi dầu sương gió ướt đẫm. Gian nhà tranh nghèo như bừng sáng trong niềm hy vọng sinh tồn.

Sáng sớm mùng 8 tháng Chạp, sương muối phủ trắng xóa rặng tre đầu ngõ. Gió bấc từ mặt sông Trà thổi thốc vào bờ từng luồng lạnh cắt da cắt thịt.

Cánh liếp nứa bỗng khẽ lay động, kèm theo tiếng gõ dồn dập — Anh Thành ơi! Lạc nhi ơi! Trong nhà có ai không?

Đại Thành vội vơ lấy thanh nạng gỗ bước ra mở cửa. Bên ngoài, chú Ba Vạng trong chiếc áo tơi lá rách bươm cùng thím Bảy Xoan trùm chiếc khăn vá chằng vá đụp đang run rẩy đứng nép bên mái hiên. Trên tay thím Bảy còn bưng chiếc rổ tre đựng hai củ khoai nướng nóng hổi.

— Đêm qua gió bấc dữ quá, tôi sợ bà cụ với cháu Lạc trở chứng ho nên bảo nhà tôi nướng củ khoai mang sang biếu… — Chú Ba Vạng vừa nói vừa bước vào, nhưng lời nói bỗng nghẹn lại nơi cổ họng.

Cả chú Ba và thím Bảy đứng chôn chân giữa nhà, mắt trừng trừng nhìn vào chiếc chõng tre. Tấm đệm cói xốp dày dặn, vàng óng ả đang tỏa ra hơi ấm dịu dàng xua tan giá buốt trong gian phòng.

Chú Ba Vạng bước nhanh tới, run run đặt bàn tay thô ráp đầy vết chai lưới lên mặt đệm. Chú ấn mạnh xuống, mặt cói lún êm ru rồi đàn hồi bật nhẹ trở lại.

— Trời đất quỷ thần ơi! — Chú Ba thốt lên kinh ngạc — Chiếu này… chiếu này hai cha con anh tự dệt đấy ư? Sao nó dày gấp đôi chiếu chợ, lại mềm xốp và ấm thế này?

Thím Bảy Xoan cũng sà xuống, mân mê từng mối tơ chuối trắng ngà ở mép biên, giọng đầy thán phục — Bác Thành khéo tay quá! Sợi gì mà óng ả, dai bền thế này hở bác? Mùa đông rét mướt thế này, nhà nào có tấm chiếu này nằm thì cần gì chăn bông đắt đỏ nữa!

Nhìn ánh mắt ao ước lẫn xót xa của đôi vợ chồng nghèo, Lạc khẽ bước lại gần, lễ phép thưa — Chú Ba, thím Bảy, đây là sợi tơ bẹ chuối hột luộc nước tro bếp kết hợp với cói phơi sương nhà cháu dệt đấy ạ.

Nghe đến bẹ chuối hột và cói ven sông, chú Ba Vạng sững sờ, rồi bỗng nắm chặt lấy cánh tay Đại Thành, giọng run run khẩn thiết — Anh Thành ơi… ngoài bãi Cồn Bãi mình cói với chuối hoang bạt ngàn không xuể. Xóm mình đàn bà con trẻ đang rét run cầm cập, bông vải thì đắt không ai mua nổi. Anh… anh cho vợ chồng tôi cùng bà con xóm bãi gia nhập học nghề với! Đàn ông chúng tôi sức dài vai rộng sẽ lội bùn cắt cói, đốn chuối gánh về; đàn bà con gái phụ se sợi, đan dệt. Chúng tôi chỉ xin kiếm manh chiếu ấm cho con nhỏ nằm qua mùa đông thôi anh!

Đại Thành nhìn sang Vĩnh Lạc. Thấy con trai mỉm cười gật đầu đầy kiên định, anh siết chặt tay người bạn chài, giọng nghẹn ngào — Chú Ba nói gì thế, người một xóm tối lửa tắt đèn có nhau, có nghề cứu mạng này thì phải cùng nhau làm chứ!

Cả gian nhà tranh rộn rã tiếng cười nói, thắp lên ngọn lửa ấm áp của tình làng nghĩa xóm. Thế nhưng, niềm vui chưa kịp trọn vẹn thì từ ngoài bến sông Trà bỗng vang lên tiếng bước chân huỳnh huỵch giẫm nát lớp sương muối lạo xạo.

Cửa liếp bị xô bật ra, một bác phu chèo đò mặt mày tái mét, thở không ra hơi hớt hải lao vào kêu lớn — Nguy rồi bác Thành ơi! Chú Ba Vạng ơi! Trên chợ huyện có biến lớn rồi! Bá Hộ Đặng vừa liên kết với thuyền buôn trên trấn, tăng giá bông vải tấm lên gấp ba lần! Lão còn xua cả bầy gia đinh mang gậy gộc đi rà soát từng xóm, dọa siết đồ đạc bắt mọi nhà phải nộp sạch nợ cũ trước ngày hăm ba tháng Chạp này!

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.