Chương 22: Trao Truyền Y Bát
Tiếng chuông đồng leng keng bên hông xe bò ngưng bặt khi bánh xe lăn qua chiếc cầu ván bắc vào làng Tiêu Gia. Ngọn gió bấc buốt giá sau những ngày đông đã tan dần, nhường chỗ cho hơi ấm đầu xuân len lỏi qua từng rặng liễu đang đâm chồi non dọc bờ sông Lạc Thủy. Trần Thụ buộc cương bò vào gốc đa già, cẩn thận vòng tay đỡ sư phụ xuống xe. Bàn tay cụ Sầm Đức Chiêu ấm áp đặt lên vai chàng thiếu niên mười tám tuổi, dáng người cụ gầy guộc nhưng lưng vẫn thẳng tắp, từng bước chống gậy trúc bước vào khoảnh sân am Thảo Lô.
Nơi chái bếp từng bị đám du côn phóng hỏa mấy hôm trước, mùi tro tàn nay đã nhường chỗ cho hương thơm ngai ngái của rơm rạ mới và tre nứa vừa đốn. Bác Trương cùng bà con xóm giềng đã tề tựu đông đủ tự lúc nào. Thấy bóng dáng hai thầy trò, bác Trương liền buông con dao rựa, tươi cười bước tới đón chào “Cụ Sầm đã về! Chúng tôi nghe tin quan Khâm sai xử án công minh, trừng trị bọn quan tham gian thương bến Nam Độ mà hả dạ khôn xiết. Chái bếp của cụ, bà con lối xóm đã rủ nhau đẵn tre lợp lại gần xong rồi, cụ cứ việc vào nhà nghỉ ngơi.”
Trần Thụ nhìn mái tranh vàng óng vừa phủ kín bộ khung tre vững chãi, trong lòng trào dâng niềm cảm kích khôn nguôi. Cậu chắp tay cúi đầu tạ ơn bà con chòm xóm, rồi nhanh nhẹn xắn cao tay áo chàm, chạy tới cùng dân làng trộn bùn rơm trát lại vách đất. Từng mảng bùn dẻo quánh được chàng thiếu niên miết phẳng phiu, che kín những vết ám khói đen của ngày cũ. Đến khi ráng chiều nhuộm hồng ngọn liễu, chái bếp am tranh đã dựng xong khang trang, khói lam chiều lại ấm áp tỏa ra từ chiếc bếp lò đất nung quen thuộc.
Xong xuôi công việc dựng bếp, Trần Thụ bước sang gian nhà ngói kiên cố của bác Trương ở đầu xóm. Cậu cung kính nâng chiếc bọc vải điều, cẩn trọng rước hũ giấm thanh ba mươi năm trở về am Thảo Lô. Đặt hũ sành da lươn bóng loáng lên chính giữa bệ thờ tổ môn ngỗ tác, nơi khói trầm đang tỏa ngát, Trần Thụ kính cẩn thắp ba nén hương, cúi đầu tạ ơn tiền nhân đã phù hộ cho phương thuật gia truyền làm sáng tỏ mối oan khiên nơi gò Tây Lĩnh.
Sáng hôm sau, khi màn sương sớm bảng lảng trên mặt sông Lạc Thủy vừa tan, Trần Thụ xin phép cụ Chiêu xuôi thuyền trở lại bến Nam Độ. Bến sông sớm nay đã nhộn nhịp tiếng hò dô bốc dỡ hàng hóa, những cánh buồm nâu tấp nập ngược xuôi. Chàng thiếu niên lặng lẽ bước lên sườn gò thoai thoải ven sông, nơi nấm mồ mới đắp của Lục Bách nằm trông ra dòng nước lấp lánh ánh bình minh.
Trần Thụ rút ba nén hương thơm c*m v** chiếc lư sành trước bia đá, cất giọng trầm buồn mà ấm áp “Lục huynh, bến sông đã thanh bình trở lại, thuyền bè qua lại tấp nập. Tẩu tẩu Tú Nương đã nhận lại đủ văn khế và ngân lượng bồi hoàn, sức khỏe dần hồi phục, an tâm dưỡng thai dưới sự đùm bọc của bà con bến bãi. Huynh ở dưới suối vàng hãy mỉm cười nhắm mắt. Lời thề bạn bè thuở ấu thơ, đệ đã giữ trọn vẹn, không phụ lòng huynh.”
Làn khói hương mỏng manh quyện vào gió sông mang theo niềm an ủi khôn nguôi. Trút bỏ được trọn vẹn gánh nặng lời thề bạn hiền, Trần Thụ vái tạ nấm mồ rồi nhẹ bước trở về am cỏ làng Tiêu Gia để phụng dưỡng sư phụ.
Buổi chiều, gian chính am Thảo Lô ấm cúng lạ thường. Bên bậu cửa sổ khép hờ, ấm nước giếng pha hoa cúc khô cùng lá ngải diệp phơi sương đang sôi reo tí tách trên chiếc thố than đượm. Cụ Sầm Đức Chiêu ngồi trên chiếc ghế mây cổ kính, đôi mắt tinh anh trăm mười một năm dãi dầu sương gió lặng lẽ dõi theo làn khói trắng vấn vương. Cụ khẽ nâng chén gốm mộc, nhấp một ngụm trà nóng rồi đưa mắt nhìn người học trò đang cẩn thận lau chùi từng thanh kẹp tre bên bàn gỗ “Thụ nhi, lại đây ngồi cùng ta.”
Trần Thụ vội buông chiếc khăn vải, bước đến ngồi ngay ngắn trên chiếc ghế con bên cạnh thầy. Cụ Chiêu nhìn đệ tử, ánh mắt đượm vẻ hoài niệm xa xăm “Cả đời lão hủ cầm dao trắc nghiệm, người đời gọi ta là Lão Bồ Tát, ngợi ca đôi mắt này nhìn thấu xương tàn. Nhưng trong lòng ta, suốt tám mươi mốt năm qua, chưa từng có một ngày nào buông bỏ được nỗi dằn vặt thời trai trẻ.”
Trần Thụ ngước nhìn sư phụ, thoáng ngỡ ngàng. Cụ Chiêu khẽ thở dài một tiếng, chậm rãi kể:“Năm ta ba mươi tuổi, tính khí còn nông nổi, tự phụ vào vài ngón nghề học lỏm từ tiền nhân. Khi khám nghiệm một tử thi nơi chân núi, ta chỉ nhìn vết bầm tím ngoài da mà vội vàng kết luận nạn nhân bị đánh chết, suýt chút nữa khiến một tiều phu lương thiện phải chịu chém đầu. May nhờ một vị lão ngỗ tác tiền bối kịp thời dùng giấm ấm hơ da làm tan vết máu ứ giả, vạch trần cái chết do trúng gió độc, mạng người vô tội mới giữ lại được. Từ ngày đó, ta quỳ trước bàn thờ tổ nghiệp lập lời thề độc: Nếu mắt chưa tỏ mười phần manh mối, tấc dạ chưa sáng tựa gương soi, thì quyết không bao giờ hạ bút ghi một chữ lên tờ nghiệm trạng.”
Cụ Chiêu khẽ đặt chén trà xuống bàn, khóe mắt già nua ánh lên niềm thanh thản “Mấy mươi năm qua, ta luôn sợ hãi lưỡi dao của mình lỡ một ly sẽ làm oan uổng người vô tội. Nhưng hôm nay, nhìn oan án bến Nam Độ được làm sáng tỏ, nhìn Tú Nương được rửa sạch hàm oan, lòng ta mới thực sự nhẹ nhõm. Lão già này trọn đời giữ vững lời thề trước trời đất, nay rốt cuộc cũng có thể an lòng đối diện với tổ tiên.”
Trần Thụ xúc động lắng nghe từng lời ruột gan của thầy, hai hốc mắt cay xè. Cụ Chiêu đưa bàn tay khô gầy nhưng ấm áp vỗ nhẹ lên mu bàn tay chàng thiếu niên “Mười lăm năm trước, giữa cơn lũ dữ cuộn sóng Lạc Thủy, ta vớt được một đứa trẻ thơ dại đang thoi thóp bám vào khúc gỗ mục. Ngày bế con về am cỏ này, ta chỉ mong nuôi con khôn lớn làm một người chất phác, lương thiện. Nhưng trời xanh đã định sẵn cơ duyên, cho con đôi tay khéo léo và một trái tim biết đau nỗi đau của kẻ cô thế. Vụ án họ Lục lần này, nếu không có sự gan dạ và mẫn cán của con, lão già trăm tuổi này dẫu có tài ba đến đâu cũng chẳng thể cứu nổi mẹ con Tú Nương.”
Nói đoạn, cụ Chiêu chống gậy trúc đứng dậy, chậm rãi bước đến chiếc tủ thờ bằng gỗ bách. Cụ mở khóa đồng, nâng ra chiếc tráp gỗ lim trăm năm khảm đồng đen cổ kính, bóng ngời sắc nâu sẫm. Mở nắp tráp, cụ trịnh trọng lấy ra con dao trắc nghiệm gia truyền bằng thép cán mỏng ngời ánh xanh sắc lạnh cùng tập bút ký thủ bản “Tẩy Oan Lục Ngôn” chép bằng mực son nắn nót, đúc kết chín mươi năm kinh nghiệm phá án.
Cụ Chiêu trao bảo vật vào đôi bàn tay đang run rẩy của người đệ tử “Thụ nhi, hôm nay ta chính thức trao lại y bát và tráp báu của tổ môn cho con. Con dao này sắc bén vô cùng, nhưng nó chỉ được dùng để mở ra sự thật, tuyệt đối không được vì danh lợi hay quyền uy mà làm vấy bẩn lưỡi thép. Hãy nhớ kỹ: Xương tàn không biết dối trá, tấc dạ người ngỗ tác phải sáng như trăng rằm, tĩnh như mặt giếng cổ. Con cầm lấy nó, thay ta làm chiếc khiên che chở cho bá tánh lầm than.”
Trần Thụ không ngăn nổi những giọt nước mắt trào dâng. Cậu bước lùi lại một bước, cung kính quỳ sụp xuống tấm chiếu cói, dập đầu ba lạy sát đất trước người thầy vừa là cha, vừa là cội nguồn của đời mình. Hai tay cậu nâng cao tráp báu truyền thừa, giọng nghẹn ngào nhưng đanh thép “Đồ nhi xin dập đầu bái tạ ơn dưỡng dục và truyền dạy như trời biển của Sư phụ! Cả đời này con xin khắc cốt ghi tâm từng lời thầy dạy, thề suốt đời giữ vững tấc dạ trong sáng, dùng kỹ nghệ ngỗ tác cứu giúp kẻ cô thế, quyết không phụ lòng người!”
Giữa lúc hai thầy trò còn đang nghẹn ngào trong giây phút truyền thừa y bát, bỗng nhiên từ con đường mòn đầu ngõ vang lên tiếng vó ngựa dồn dập nghiến trên nền sỏi đá. Tiếng hí vang xé toạc không gian thanh vắng của am tranh.
Một nha dịch phủ đài mình khoác nhung phục xanh sẫm, hông đeo đao dài, tay cầm một phong công văn bọc gấm vàng đóng dấu triện son đỏ rực vội vã ghìm ngựa ngay trước cổng am Thảo Lô, lớn tiếng gọi vang “Có cụ Sầm ngỗ tác và Trần tráng sĩ ở đây không? Phủ đường Lạc Giang có công văn khẩn cấp truyền tới!”
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
