Chương 2: Xe Bò Rời Am Cỏ

Gió bấc rít từng hồi qua rặng liễu ven làng Tiêu Gia, phả hơi lạnh căm căm từ mặt sông Lạc Thủy vào bờ. Trần Thụ vừa khép cánh cổng rào am Thảo Lô thì từ con đường mòn lầy lội, tiếng bước chân bì bõm hỗn loạn cùng tiếng th* d*c dồn dập đã xé toạc màn mưa phùn chiều muộn.

“Trần tiểu ca! Nguy ngập rồi! Mau cứu mạng Lục thiếu phu nhân!”

Bác Trương, phu thuyền luống tuổi bến Nam Độ, hớt hải lao tới rồi trượt ngã nhào xuống bùn. Trần Thụ giật mình, vội chạy lại đỡ lấy cánh tay run lẩy bẩy của lão phu thuyền. Đằng sau bác, hơn chục dân chài quần áo ướt sũng, mặt mày tím tái vì kinh hoàng cũng lũ lượt ùa đến vây kín trước cổng am.

“Bác Trương, có chuyện gì xảy ra ở bến tàu? Lục huynh đâu rồi?” Trần Thụ siết nhẹ vai người phu già, trong lòng dấy lên linh cảm chẳng lành.

Bác Trương nghẹn ngào, hai hàng nước mắt đục ngầu giàn giụa trên gò má nhăn nheo: “Lục Bách đại gia… thác rồi! Thi thể trôi dạt vào bãi cọc bến Nam Độ từ sớm tinh sương! Nhưng khốn nạn thay, tân Tri phủ Tống Diễn cùng hào trưởng Tiền Hạo Thâm kéo nha sai đến, nghe lời gièm pha của tên quản sự phản phúc Lạc Phúc, đổ riệt cho Diệp tẩu tẩu tội bỏ thạch tín vào cháo mưu sát phu quân!”

Trần Thụ bàng hoàng như bị sét đánh ngang tai, lồng ngực thắt lại: “Lục huynh chết rồi ư? Tẩu tẩu… tẩu tẩu làm sao có thể hạ độc chàng?”

“Tống phủ đài đã tống tẩu tẩu cậu vào đại lao, tra tấn dã man!” Bác Trương túm chặt vạt áo chàm của Trần Thụ, giọng run bần bật vì phẫn uất và sợ hãi: “Một ngục tốt có họ hàng với dân chài vừa lén chạy ra báo tin: Tri phủ đích thân mang kẹp ngón tay bằng sắt vào tận buồng giam. Hắn cho tẩu ấy đúng một đêm suy nghĩ! Nếu sáng mai tẩu tẩu không chịu điểm chỉ nhận tội giết chồng và giao nộp văn khế bến bãi cho Tiền gia, hắn sẽ dùng kẹp sắt nghiền nát từng đốt xương rồi lập tức kéo ra pháp trường chém đầu thị chúng để cướp bến!”

Lời đe dọa man rợ ấy như mũi dao nhọn đâm thẳng vào tim Trần Thụ. Lục Bách là người bạn thuở nhỏ cùng chàng lớn lên bên bến sông, còn Diệp Tú Nương tần tảo sớm hôm, luôn coi chàng như em ruột trong nhà. Nay một người chết thảm bất minh, một người sắp chịu cảnh nghiền xương nát thịt dưới bàn tay quan tham bạo ngược chỉ nội trong sớm mai!

Thời gian không còn nhiều, mỗi một khắc trôi qua là sinh mạng người vô tội lại ngắn thêm một gang tấc.

Chẳng màng đến vũng bùn lầy buốt giá dưới chân, Trần Thụ xoay người, quỳ sụp xuống trước hiên am Thảo Lô. Chàng dập đầu thật mạnh xuống thềm đất, cất tiếng kêu khẩn thiết: “Sư phụ! Xin Sư phụ mở rộng lòng từ bi cứu lấy Lục gia! Lục huynh mất mạng oan khiên, tẩu tẩu bị vu hãm hạ độc, sớm mai quan phủ sẽ dùng kẹp sắt nghiền nát xương ngón tay tẩu ấy rồi chém đầu thị chúng. Mạng người lâm nguy nơi ngục tối, chỉ có đôi mắt sáng và bàn tay của Sư phụ mới phân định được trắng đen!”

Phía sau lưng chàng, đám dân chài và phu phen bến Nam Độ cũng đồng loạt quỳ rạp dưới mưa phùn, tiếng van vỉ nghẹn ngào hòa vào tiếng gió rít: “Xin Cụ Sầm rủ lòng thương xót!” “Cụ ơi, cứu lấy Tú Nương, cứu lấy bến sông chúng con!”

Bên trong am cỏ, mùi hương ngải diệp và hoa cúc khô thoang thoảng bay ra. Tiếng gậy trúc gõ chầm chậm, nhịp nhàng từng tiếng “cộc… cộc…” trên nền đất nện.

Cánh liếp tre khẽ mở, cụ Sầm Đức Chiêu chậm rãi bước ra. Cụ đã một trăm mười một tuổi, râu tóc bạc phơ như cước buông dài trước ngực, vóc người gầy guộc khoác tấm áo chàm thô sờn vai. Dẫu bước chân phải nương theo cây gậy trúc, đôi mắt cụ vẫn quắc thước lạ thường, sâu thẳm tựa làn nước giếng cổ không gợn sóng.

“Thụ nhi, đứng dậy đi con. Đứng cả dậy đi, đừng quỳ dưới đất buốt.” Giọng cụ Chiêu trầm ấm, khoan thai, vang lên rõ ràng giữa tiếng gió bấc gầm gào.Trần Thụ gạt vội giọt nước mắt lạnh buốt trên má, gượng đứng lên đỡ lấy cánh tay gầy guộc của thầy.

Cụ Chiêu đưa mắt nhìn đám phu phen ướt sũng, rồi dừng lại trên khuôn mặt trẻ tuổi đầy nỗi âu lo của đệ tử: “Con nói… quan nha kết tội nàng dâu họ Diệp dùng thạch tín hạ độc, lại còn ép điểm chỉ giao nộp bến bãi?”

“Dạ thưa Sư phụ,” Trần Thụ đáp, giọng nghẹn ngào, “quản sự Lạc Phúc nộp lên một chén cháo dở có vương bột thạch tín. Tri phủ Tống Diễn dựa vào đó ép cung, hạn định chỉ nội trong đêm nay phải giao nộp văn khế cho Tiền Hạo Thâm, bằng không sáng sớm mai sẽ dùng cực hình bẻ gãy ngón tay rồi xử chém.”

Đôi mày bạc của cụ Chiêu khẽ nhíu lại. Cụ chắp tay sau lưng, ngước nhìn về phía rặng mây xám xịt nơi hạ lưu sông Lạc Thủy: “Một xác người vớt lên từ lòng sông buốt giá, khí huyết ngưng trệ, miệng lưỡi chưa nghiệm xét tường tận. Nếu quả thực trúng độc thạch tín đến mức chết ngay trên sông, sắc diện và lục phủ ngũ tạng tất phải có dấu hiệu trụy hoại đặc thù. Quan nha chưa cho ngỗ tác khám nghiệm tử thi đúng phép tắc triều đình, chỉ dựa vào một chén cháo do gia bộc dâng lên mà vội vã dùng nhục hình ép cung đòi đoạt bến bãi… Sự vội vã này không phải để thực thi phép nước, mà là để bịt miệng người sống và che giấu tội ác.”

Cụ Chiêu khẽ thở dài, ánh mắt già nua chìm vào trầm tư. Cụ quay sang nhìn người học trò trẻ, giọng chùng xuống như trút nỗi niềm trăn trở: “Năm ta ba mươi tuổi, từng vì vội vàng phán đoán một vết thương mà suýt dâng nghiệm trạng sai khiến một người vô tội phải bước lên đoạn đầu đài. Đêm ấy, ta quỳ trước bàn thờ tổ tiên suốt ba canh giờ sám hối, tự thề với trời đất: trọn đời cầm dao trắc nghiệm, nếu chưa nắm chắc mười phần chứng cứ thì quyết không hạ bút, và tuyệt đối không bao giờ để quyền thế hay sự cẩu thả cướp đi sinh mạng của kẻ vô tội.”

Bàn tay nổi gân xanh của cụ vỗ nhẹ lên mu bàn tay Trần Thụ: “Lão già này đã ngoài trăm tuổi, vốn muốn nương náu am cỏ đợi ngày xuôi tay. Nhưng xương tàn nằm nơi bãi cát không thể tự cất lời kêu oan, kẻ cô thế nơi ngục tối lại đang đợi người che chở. Nếu hôm nay ta ngoảnh mặt làm ngơ, ngày sau nhắm mắt làm sao đối diện với lương tâm người cầm dao nghiệm thi?”

Cụ ngẩng đầu, ánh mắt ngời lên vẻ kiên định vững như bàn thạch: “Thụ nhi, vào am thỉnh chiếc tráp gỗ cho ta. Chuẩn bị chiếc xe bò, chúng ta vào thành.”

Trần Thụ mừng rỡ khôn xiết, dập đầu một lạy nữa rồi vội vã chạy vào am. Chàng cẩn trọng nâng chiếc tráp bằng gỗ thị đen bóng đặt lên vai. Chiếc tráp đã theo sư phụ hơn chín mươi năm dãi dầu sương gió, bên trong xếp ngay ngắn những chiếc lọ sành đựng giấm thanh ủ ba mươi năm, kẹp tre, ngân châm khử độc, nến sáp và tập sổ chép nghiệm trạng bằng giấy bản.

Chàng chạy ra sau am, dắt con bò già lông vàng quen thuộc buộc vào chiếc xe gỗ mộc. Trần Thụ nhanh nhẹn ôm mấy bó rơm khô sạch sẽ rải đều trên sàn xe, trải thêm tấm chiếu cói dày dặn để sư phụ ngồi tránh gió lạnh. Đám dân phu thấy cụ Chiêu nhận lời thì rưng rưng mừng rỡ, người đỡ cụ bước lên xe, người cởi áo tơi che chắn hai bên thành xe để chắn bớt gió bấc.

Cụ Chiêu ngồi ngay ngắn trên đệm rơm, hai tay vịn chặt cây gậy trúc. Trần Thụ nắm lấy dây cương, cất tiếng giục bò.

Bánh xe gỗ kẽo kẹt lăn từng vòng trên con đường đất lầy lội, rẽ qua rặng liễu đầu làng Tiêu Gia. Dưới làn mưa phùn giăng mờ mịt, hơn chục người dân chài và phu phen bến Nam Độ lặng lẽ tản ra hai bên, che chắn cho chiếc xe bò, cùng rảo bước hướng về phía châu phủ Lạc Giang.

Trời về chiều sập tối rất nhanh. Khi những rặng đèn lồng đỏ nơi chòi canh cổng thành Lạc Giang vừa được thắp lên nhạt nhòa trong sương lạnh, bóng dáng chiếc xe bò già nua đã chầm chậm hiện ra nơi chân thành. Tin tức lão ngỗ tác trăm tuổi phá lệ tái xuất đã lan truyền theo những bước chân chạy gấp của dân sông nước.

Chiếc xe bò kẽo kẹt tiến vào cổng thành Lạc Giang giữa tiếng reo mừng rơi lệ của hàng trăm dân chài đang ngóng đợi Lão Bồ Tát ngỗ tác trở lại.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.