Chương 10: Đêm Lặn Vũng Đầm Hoang
Dứt lời đáp mệnh, Trần Thụ kính cẩn đỡ cụ Sầm Đức Chiêu lên cỗ xe bò rải rơm êm ái, cẩn thận dặn dò người phu già đánh xe đưa sư phụ lánh về gian nhà ngói kiên cố của người quen nơi làng Tiêu Gia. Chờ bóng cỗ xe khuất hẳn sau rặng tre đầu bến, thiếu niên mười tám tuổi khẽ thắt chặt lại dải khăn thắt lưng, vuốt nhẹ chiếc túi da dầu chống nước giắt chắc bên hông. Bên trong túi đã xếp sẵn một cuộn lụa thô, chiếc kẹp tre mỏng và con dao trắc nghiệm chuôi sừng sắc bén mà sư phụ trao cho từ những ngày đầu theo học. Không mang theo chiếc tráp gỗ thị cồng kềnh, Trần Thụ thoăn thoắt lách qua những rặng cọc tiêu trơ trọi ven bờ, bước xuống một chiếc thuyền nan nhỏ nép mình trong góc tối mép nước bến Nam Độ.
Gió bấc cuối đông thổi rít từng cơn buốt giá trên mặt sông Lạc Thủy. Dòng nước đen sẫm cuộn sóng lăn tăn, thỉnh thoảng va vào mạn thuyền phát ra những tiếng bì bõm rời rạc. Trần Thụ cúi thấp người, hai cánh tay gân guốc dồn lực khua nhẹ mái dầm gỗ, điều khiển con thuyền nan lướt đi êm ru không một tiếng động. Xuôi dòng chừng ba dặm về phía hạ lưu, dòng sông bắt đầu mở rộng rồi thắt lại ở một khúc quanh lầy lội, rậm rạp ngút ngàn lau sậy cao quá đầu người. Đó chính là Vũng Đầm Hoang — nơi nước tù đọng quánh đặc, quanh năm vắng bóng thuyền buôn qua lại.
Càng tiến sâu vào bãi sậy xào xạc, mùi ngai ngái của bùn rêu mục rữa càng xộc lên nồng nặc. Trần Thụ nheo mắt quan sát, khẽ hít một hơi qua kẽ răng. Lẩn khuất trong màn sương buốt có một mùi khét nhẹ quen thuộc — mùi dầu trẩu hòa quyện cùng vị chan chát của than đá trôi dạt, hệt như thứ tạp chất mà ban chiều sư phụ đã chỉ cho cậu thấy dưới móng tay Lục Bách. Cậu nén chặt xúc động, gác dầm chèo rồi nép mũi thuyền nan vào khóm sậy già rậm rạp nhất. Xung quanh tĩnh mịch đến rợn người, chỉ có tiếng gió lùa qua thân lau khô nghe tựa tiếng thở dài ai oán của con sông lạnh.
Trần Thụ cởi chiếc áo chàm sém vạt vắt gọn lên khoang thuyền, chỉ mặc độc chiếc quần cộc bằng vải thô bó sát. Gió lạnh lập tức táp vào da thịt khiến sống lưng cậu tê dại từng đợt gai ốc, nhưng lồng ngực trẻ tuổi lại bừng bừng nhiệt huyết. Mười lăm năm trước, cụ Chiêu đã vớt cậu lên từ dòng nước lũ, trao cho cậu một mạng sống và rèn giũa cho cậu đôi mắt biết lắng nghe sự thật từ xương tàn. Bạn thuở nhỏ của cậu nay nằm oan khuất dưới gò đất hoang, tẩu tẩu đang cắn răng chịu đòn roi nơi ngục tối, cậu quyết không thể chùn bước. Trần Thụ rút con dao trắc nghiệm ngậm ngang miệng, buộc chặt miệng túi da dầu bên hông, hít một hơi thật sâu rồi khẽ trườn mình xuống làn nước buốt giá.
Cái lạnh thấu xương lập tức bọc lấy toàn thân như hàng ngàn mũi kim châm buốt nhọn. Trần Thụ cắn chặt chuôi dao, hai chân đạp nước nhịp nhàng đưa thân mình chìm sâu xuống đáy vũng. Nước ở đầm hoang đục ngầu bùn lầy, mắt thường hoàn toàn không thể nhìn thấy gì trong đêm tối. Cậu chỉ có thể dựa vào đôi bàn tay khéo léo cùng xúc giác nhạy bén của dân sông nước. Đáy đầm sâu hơn một trượng, bùn sình nhão nhoét ngập đến tận đầu gối. Cậu s* s**ng mò mẫm từng tấc bùn đen, lần theo lớp váng trơn nhớt của dầu trẩu và vụn than trôi dạt trong dòng nước lạnh.
Bất chợt, đầu ngón tay cậu chạm phải một gờ gỗ cứng ngắc, thô ráp. Trần Thụ nín thở, men theo gờ gỗ lần sang hai bên. Đó là một mạn thuyền lớn nằm nghiêng nửa th*n d*** lớp bùn lầy. Cậu lần dọc theo sống thuyền xuôi xuống đáy. Khi ngón tay chạm vào phần ván đáy thuyền, tim cậu thắt lại: hai lỗ thủng to bằng miệng bát ăn cơm, rìa mép gỗ bị đục vỡ nham nhở với những vết bạt phẳng lì sắc ngọt. Đây chính là dấu vết đục khoét bằng choòng sắt của thợ thuyền. Con thuyền chở than này không hề bị đắm vì sóng to gió lớn hay va vào đá ngầm, mà rõ ràng bị kẻ gian đục thủng đáy có chủ đích để nhận chìm xuống đầm hoang nhằm xóa sạch mọi dấu vết.
Trần Thụ trồi lên mép thuyền hớp vội một ngụm không khí hòa lẫn sương đêm bên rặng sậy, rồi lập tức lặn sâu trở lại, chui người vào khoang lái chìm dưới nước. Dưới đáy khoang, lớp than đá vụn lạo xạo cọ vào da thịt cậu. Bàn tay cậu tỉ mỉ rà soát từng phiến ván sàn. Ở góc khoang gần bệ lái, nơi lớp dầu trẩu quét chống thấm còn bám dày, ngón tay cậu cảm nhận được những vết cào xé sâu hoắm, nham nhở — dấu tích giãy giụa tuyệt vọng của Lục Bách trước khi trút hơi thở cuối cùng. Cọ xát sâu hơn vào thớ gỗ, cậu chạm phải một mảng gờ sần sùi khác thường. Dù bị ngâm trong nước lạnh suốt mấy ngày đêm, vết máu ứ thẫm màu thấm đọng vào thớ gỗ dầu trẩu vẫn chưa bị rửa trôi hoàn toàn. Kẻ thủ ác đã vội vã dùng nước tạt rửa sơ sài trước khi đục thuyền phi tang.Ngay cạnh vết máu loang ấy, ngón tay Trần Thụ vướng phải một đoạn dây thô ráp. Cậu cẩn thận kéo ra: đó là một mẩu dây đay tao to, đầu dây bị cắt đứt ngọt bằng lưỡi dao bén. Thợ bến sông ai cũng biết, loại dây đay chắc nịch này vốn chỉ dùng để quấn chặt quanh đòn gánh nhằm tăng độ bám và ghìm chặt quang gánh nặng. Kẻ thủ ác sau khi dùng chiếc đòn gánh lim bọc sắt giáng đòn chí mạng vào sau gáy Lục Bách, đã vội vã cắt đứt sợi dây đay vướng víu rồi mang chiếc đòn gánh hung khí tẩu thoát, bỏ lại đoạn dây đứt cùng con thuyền chìm. Đúng như suy đoán như thần của sư phụ, chiếc đòn gánh bọc sắt đã bị Lạc Phúc mang đi nơi khác hòng che giấu vết tích rạn sọ.
Hơi thở trong lồng ngực bắt đầu cạn kiệt, hai màng tang đập dồn dập vì áp lực nước lạnh. Trần Thụ nhanh chóng tháo túi da dầu, vốc một nắm mạt than đá đen nhánh, sắc cạnh dưới đáy khoang nhét chặt vào trong. Tiếp đó, cậu rút con dao trắc nghiệm chuôi sừng nơi khóe miệng, lựa góc cạnh nạy mạnh vào phiến ván sàn dính vết máu loang. Lưỡi dao bén ngọt lách qua thớ gỗ mục rạn, khẽ phát ra tiếng “rắc” nho nhỏ. Một mảnh ván gỗ dài nửa gang tay, thấm đẫm vết máu ứ sẫm màu và váng dầu trẩu, đã nằm gọn trong lòng bàn tay cậu. Trần Thụ cẩn trọng nhét mảnh ván vào túi da dầu, rút dây siết chặt miệng túi, rồi dùng hết sức bình sinh đạp mạnh hai chân đẩy thân mình ngoi lên mặt nước.
Mặt nước rẽ đôi rào rào. Trần Thụ vừa ngoi đầu lên khỏi rặng sậy rậm rạp, ngửa cổ hít lấy một luồng không khí buốt giá vào buồng phổi thì bất thình lình, một tiếng quát lớn tựa sấm sét rạch toạc màn đêm “Có kẻ dưới đầm! Mau châm đuốc!”
Chỉ trong chớp mắt, hàng chục ngọn đuốc tẩm dầu rực lửa đồng loạt bốc cháy quanh bờ đầm, soi sáng rực cả một vùng mặt nước đầm hoang. Ánh lửa đỏ quạch phản chiếu trên những lưỡi đao sáng loáng vừa tuốt khỏi vỏ nghe “xoảng” rợn người. Trên bờ đầm, hơn hai mươi sai dịch nha môn cùng toán gia đinh Tiền gia đằng đằng sát khí giương cung lăm lăm chĩa vào bụi sậy.
Tiếng quát the thé, cay độc của viên đầu mục sai dịch thân tín của Tống Diễn vang lên chát chúa “Lệnh của Tri phủ đại nhân: Bắt sống lấy kẻ lén lút lục lọi dưới đầm hoang, đứa nào dám kháng cự cứ việc chém chết tại chỗ!”
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
