Chương 4: Vành Đai Vôi Trắng

Kha Trọng Khiêm khẽ gạt lớp bùn đất bám quanh miếng sáp đỏ, cẩn thận dùng mũi que gỗ tách dải vải gai mang ấn triện mặt trời mười hai tia sáng ra khỏi mép bao, gói kín trong một mảnh lá khô rồi cất sâu vào túi áo trong. Ông quay sang dặn A Mộc không được dùng tay trần chạm vào bất kỳ kiện hàng nào, đoạn giục cậu cùng mình khiêng những tảng đá hộc lớn dưới chân cầu thang, kết hợp với đất sét và vôi sống nhào đặc để trát kín đoạn bờ rãnh nứt toác.

Khi kẽ đá cuối cùng được trám phẳng, dòng nước đen ngòm ngừng rỉ ra con mương sinh hoạt, phương đông cũng vừa ửng lên quầng sáng lờ mờ màu tro lạnh. Giờ Thìn chưa điểm, mạch nước chính của sông Cố Sơn tạm thời giữ được an toàn.

“Kha tiên sinh, bà con đã tề tựu đông đủ ở đầu ngõ rồi.” Tuệ Nương bước vội xuống bậc thềm đá, hơi thở phả ra làn khói mỏng giữa sương sớm, hai ống tay áo đã xắn cao gọn gàng.

Kha Trọng Khiêm gật đầu, rảo bước theo bà lên mặt đất.

Khoảng sân đất nện trước kho xưởng lầy lội dưới làn mưa bụi buốt giá. Hơn bốn mươi người dân xóm thợ thuộc da đứng co cụm bên nhau, áo quần chắp vá phong phanh, ánh mắt dại đi vì kinh hoàng và thiếu ngủ. Những tiếng khóc hờ rấm rứt của đàn bà quyện với tiếng th* d*c nặng nhọc của vài người thợ đang ôm cẳng tay sưng tấy khiến bầu không khí u ám như một bãi tha ma. Nhìn thấy Kha Trọng Khiêm bước ra, đám đông xôn xao lùi lại nửa bước, vừa e dè vừa ngóng đợi.

Kha Trọng Khiêm dừng lại trước phiến đá lớn giữa sân, ánh mắt điềm tĩnh lướt qua từng gương mặt hốc hác. Ông không cất lời đao to búa lớn, giọng nói trầm ấm mà rành rọt cất lên, át đi tiếng gió rít qua khe vách nứa “Bà con đừng hoảng loạn. Thứ mụn nhọt đen kịt này không phải quỷ thần giáng họa, càng không phải nghiệp chướng vô hình. Nó là một loại độc mầm sinh ra từ da của những con cừu ốm chết ở biên ải phía Bắc, theo đường trầy xước trên da thịt mà chui vào cơ thể. Ai không có vết thương hở, không chạm vào lông cừu bệnh thì độc mầm không làm hại được. Chúng ta hoàn toàn có thể chặn đứng nó bằng vôi sống và kỷ luật.”

Lời giải thích mộc mạc, mạch lạc như dòng nước ấm tưới vào lòng chảo lửa đang sôi sục. Tiếng khóc lóc lắng dần. Một người thợ già run rẩy cất tiếng “Tiên sinh... vậy xóm chúng tôi phải làm gì để giữ lấy mạng sống?”

“Dựng hàng rào, chia đất thành ba vòng độc lập.” Kha Trọng Khiêm dứt khoát đáp. “Từ giờ khắc này, xóm thợ sẽ phong tỏa theo ba khu vực riêng biệt. Không ai được tự ý bước qua lằn ranh khi chưa có sự cho phép của tôi và Tuệ Nương.”

Dưới sự chỉ dẫn của ông, cả xóm thợ lập tức chuyển động.

Kha Trọng Khiêm vạch một đường rãnh sâu nửa thước quanh kho xưởng và năm gian lán trũng thấp ven sông—nơi mười một người bệnh có nốt than đen đang nằm liệt. Dây thừng gai tẩm nước tro đặc được căng cao ngang ngực, rãnh đất bên dưới được rải đầy vôi bột trắng xóa, tạo thành một vành đai cô lập tuyệt đối. Đây là khu vực cách ly nghiêm ngặt nhất, chỉ có Khiêm và Tuệ Nương mang tạp dề da cừu sạch, trùm kín mặt bằng khăn vải nhiều lớp mới được bước vào chăm sóc, thay rửa vết loét.

Cách đó mười trượng, một vành đai thừng gai thứ hai được dựng lên, bao quanh các dãy chòi của những người từng tham gia bốc vác, cạo lông lô cừu bệnh hoặc sống chung lều với người nhiễm. Khu vực theo dõi này dành cho diện tiếp xúc gần. Họ được phát nước ấm pha muối hạt để súc miệng, lau rửa tay chân ba khắc một lần, chờ đợi qua chu kỳ phát bệnh mà không được tiếp xúc với bên ngoài.

Vòng ngoài cùng, nằm trên gò đất cao ráo, thoáng đãng ở đầu xóm, được dành riêng làm khu an toàn cho người già, phụ nữ mang thai và trẻ nhỏ chưa từng bén mảng đến kho thuộc da.

Công việc cấp bách tiếp theo là triệt tiêu tận gốc nguồn lây nhiễm trong căn hầm đá. Kha Trọng Khiêm huy động sáu thanh niên khỏe mạnh thuộc khu vực theo dõi, hướng dẫn họ dùng giẻ rách quấn chặt quanh bàn tay và cổ chân, lấy khăn tẩm giấm che kín mũi miệng. Họ dùng những chiếc đòn tre dài ngoắc vào quai bao tải, tuyệt đối không để da thịt cọ xát trực tiếp vào kiện hàng, cẩn trọng vần từng bao da cừu bốc mùi tanh nồng lên xe cút kít gỗ.

Đoàn xe lặng lẽ lăn bánh về phía bãi đất hoang cằn cỗi sau gò đá, cách xa giếng đào và con mương sinh hoạt hơn hai trăm trượng. Một hố sâu hun hút được đào sẵn từ sớm.Dưới đáy hố, Kha Trọng Khiêm trực tiếp kiểm tra việc rải lớp vôi sống trắng tinh, dày đúng nửa thước. Từng bao da cừu mục nát, cùng toàn bộ xác súc vật chết rải rác trong xóm mấy ngày qua, lần lượt được trút xuống hố sâu. Khói vôi bốc lên mù mịt, sủi bọt xèo xèo khi gặp dịch ẩm thối rữa, tỏa ra mùi nồng gắt đặc trưng thiêu đốt mọi mầm độc hữu cơ. Khi lớp vôi thứ hai phủ kín mặt đống da cừu với độ dày nửa thước nữa, đất đá mới được lấp xuống, nện chặt từng lớp thành một nấm mộ kiên cố giữa đồng hoang.

Trở lại xóm thợ khi mặt trời đã lên cao bằng con sào, Kha Trọng Khiêm không kịp nghỉ ngơi. Ông đi dọc theo lằn ranh vôi trắng, kiên nhẫn ghé vào từng căn lán của khu an toàn để dặn dò bà con.

“Từ hôm nay, tuyệt đối không ăn thịt sống, không uống nước lã gánh từ mương.” Ông cúi người nhìn một bà cụ đang run rẩy ôm đứa cháu nhỏ, giọng nói ôn tồn mà kiên quyết. “Mọi thau nước dùng để nấu nướng hay rửa mặt đều phải đun sôi sùng sục trên bếp lửa ít nhất nửa tuần trà. Nước sôi chính là thứ thuốc diệt độc mầm tốt nhất trời ban cho chúng ta. Mỗi người dùng riêng một gáo dừa, một mảnh khăn lau, tuyệt đối không dùng chung thau chậu rửa mặt, kẻo mầm độc bám vào mắt mũi.”

Bà cụ ngước nhìn đôi bàn tay thô ráp, nhem nhuốc vôi trắng của người thầy thuốc lạ mặt, khóe mắt rưng rưng rồi gật đầu lia lịa “Tiên sinh dạy chí phải... Lũ già chúng tôi cứ ngỡ thần linh trừng phạt nên chỉ biết chắp tay chờ chết. Nghe lời ngài, nhà tôi đã bắc sẵn nồi nước sôi trên kiềng rồi đây.”

Nhìn những cột khói bếp bắt đầu bốc lên nghi ngút từ mái tranh xiêu vẹo, lòng Kha Trọng Khiêm khẽ chùng xuống. Nỗi sợ hãi ma quỷ từng bóp nghẹt xóm thợ giờ đây đã nhường chỗ cho sự trật tự, kỷ luật và niềm hy vọng le lói. Những người thợ da vốn quen lam lũ, nay tự giác vác cuốc xẻng đi tuần tra quanh rãnh vôi, cẩn thận gánh từng sọt vôi bột bồi thêm vào những đoạn rãnh bị gió thổi tản mát.

Bên trong lều cách ly của khu người bệnh, Tuệ Nương vừa lau xong vết loét cho người thợ trẻ họ Trương, bước ra đưa cho Khiêm một bát nước vối ấm.

“Kha tiên sinh, uống chút nước ấm đi.” Đôi mắt Tuệ Nương ánh lên sự thán phục chân thành. “Mười một người bệnh trong lán sau khi được rửa bằng nước tro trong và đắp lá non đã bớt sốt li bì, nốt than đen cũng se miệng lại, không còn rỉ d*ch nh*n nữa. Nhìn vành đai vôi trắng này, tiểu nữ mới hiểu thế nào là dẹp dịch cứu người.”

Kha Trọng Khiêm đón lấy bát nước, khẽ mỉm cười “Đây mới chỉ là bước đầu khoanh vùng, Tuệ Nương y sư. Chúng ta phải kiên trì giữ vững lằn ranh này qua đủ chu kỳ phát bệnh...”

Lời ông chưa dứt, một tràng âm thanh chói tai bỗng xé toạc không gian tĩnh lặng của xóm thợ.

“Chong! Chong! Chong!”

Tiếng thanh la đồng vang lên dồn dập, gắt gỏng từ phía đầu ngõ dẫn vào thành Cố Sơn.

Kha Trọng Khiêm giật mình quay phắt lại. Qua màn bụi đường mịt mù, hàng chục bóng người mang gậy gộc, đòn gánh và đuốc tẩm dầu đang rầm rộ xông tới. Đi đầu là toán hộ vệ mặc giáp da thêu hình mặt trời rực lửa của Giáo đoàn Nhật Thần, miệng không ngừng gào thét kích động đám thân nhân đang mắt đỏ sòng sọc phía sau “Lũ khốn nạn xóm da! Kẻ tà đạo kia đang giam lỏng con em các ngươi để làm vật tế quỷ! Phá nát vành đai vôi trắng! Đập tan hàng rào, xông vào cướp người ra mau!”

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.