Chương 3: Truy Vết Độc Bì

Gió sông Cố Sơn thốc từng cơn buốt lạnh qua khe liếp lều, mang theo mùi ẩm mốc nồng gắt. A Mộc vừa nhìn thấy những bóng người lén lút bên kho xưởng liền nhỏm dậy, hai bàn tay nắm chặt, toan bước ra ngoài “Là cai xưởng Trương! Chắc chắn lão đang giấu mớ da cừu bẩn đó!”

“Bình tĩnh đã, A Mộc.” Kha Trọng Khiêm khẽ đưa tay giữ vai cậu bé, ấn nhẹ xuống chõng tre. Ánh mắt ông nheo lại, nhìn xuyên qua màn đêm mịt mùng.

Cách đó chừng mười lăm trượng, ba bóng người lực lưỡng dưới ánh đuốc le lói vừa vần xong bao tải cuối cùng xuống một rãnh hầm lát đá phía sau hồi xưởng. Tiếng then sắt nặng trịch sập xuống nghe khô khốc trong đêm vắng. Ánh lửa vụt tắt. Nhóm người vội vã rảo bước lẩn vào bóng tối của các con ngõ ngoằn ngoèo ven sông, chỉ để lại tiếng chó sủa ran từng chặp xa xa.

Kha Trọng Khiêm đứng im lặng hồi lâu, ghi nhận vị trí căn hầm và hướng dòng chảy của rãnh nước thải bên hông xưởng. Lúc này xông ra chất vấn chỉ khiến kẻ gian tiêu hủy chứng cứ hoặc chống trả liều lĩnh. Muốn dập tắt ổ dịch và lật ngược tình thế trước thời hạn năm ngày, ông cần những chứng cứ thực nghiệm không thể chối cãi.

Ông quay vào trong gian lều. Tuệ Nương vừa cẩn thận bưng vào một âu sành đựng nước tro củi đã lắng trong. Nước tro óng ánh sắc vàng nhạt, hơi bốc lên mang theo vị nồng gắt đặc trưng.

“Kha tiên sinh, nước tro đun sôi đã nguội bớt rồi.” Tuệ Nương khẽ nói.

“Tốt lắm. Trước hết, chúng ta cần ghi chép lại toàn bộ manh mối.” Kha Trọng Khiêm nhìn quanh rồi hỏi: “Cô có giấy bản và than củi không?”

Tuệ Nương gật đầu, vội vã lục trong chiếc hòm gỗ cũ nát ở góc lều lấy ra mấy tờ giấy bản ráp màu vàng đục cùng một mẩu than củi cháy dở.

Kha Trọng Khiêm trải phẳng tờ giấy lên mặt chiếc chõng tre ọp ẹp. Đôi bàn tay thô ráp của ông thoăn thoắt kẻ những đường thẳng thớm, chia mặt giấy thành từng cột rõ ràng: tên họ, tuổi tác, công việc cụ thể, ngày xuất hiện nốt sần đỏ, vị trí vết loét và các dấu hiệu phát sốt.

Dưới ánh đèn dầu hạt cải leo lét như hạt đậu, ông ngồi xuống bên cạnh người thợ già họ Trương đang nằm thiếp đi vì mệt.

“Bác Trương, cố gắng nhớ lại giúp tôi.” Giọng Khiêm trầm ấm, truyền đi sự an tâm kỳ lạ. “Bác bắt đầu thấy ngứa và nổi nốt đỏ ở cẳng tay từ canh giờ nào?”

Người thợ già mở cặp mắt đục ngầu, run rẩy cất tiếng: “Bẩm thầy lang... đúng ba ngày trước. Nửa đêm hôm đó, xưởng nhận chuyến hàng chở bằng thuyền từ mạn ngược về. Lão phụ trách bốc dỡ các bao tải từ bến sông lên kho. Sáng hôm sau thức dậy, cẳng tay lão ngứa như có kiến bò, gãi một cái là nổi mụn nước đỏ tươi.”

Kha Trọng Khiêm cẩn thận ấn nhẹ đầu mẩu than củi lên mặt giấy, ghi lại từng mốc thời gian. Ông lần lượt hỏi han ba người thợ cạo lông đang nằm rải rác trong lều, rồi đối chiếu với lời kể của A Mộc.

Từng dòng chữ bằng than đen hiện lên ngay ngắn trên tờ giấy bản. Kết quả hiện ra rành mạch: toàn bộ bảy người thợ phát bệnh nặng nhất đều khởi phát triệu chứng trong vòng ba đến bốn ngày qua. Điểm chung tuyệt đối của họ là cùng tham gia bốc dỡ, khuân vác hoặc trực tiếp dùng dao cạo lông chuyến hàng cừu đêm hôm ấy.

“Vẫn chưa đủ.” Kha Trọng Khiêm đứng dậy, phủi nhẹ lớp bụi than trên đầu ngón tay. “Chúng ta phải đi rà soát từng chòi thợ trong xóm. Phải tìm ra tất cả những ai đã chạm vào lô hàng đó trước khi nốt độc vỡ ra.”

Tuệ Nương thắp một chiếc đèn lồng nan tre chắn gió, xách theo túi vải đựng nước tro đặc và vải sạch. Kha Trọng Khiêm cùng A Mộc sóng bước bên nàng, men theo con đường đất nhão nhoét bùn lầy ven sông Cố Sơn.

Dưới ánh đèn vàng vọt chao đảo theo từng cơn gió, ba người lần theo dấu vết phân phối lông cừu. Bến sông vắng lặng chỉ còn trơ lại những cọc gỗ mục cắm sâu vào bãi bùn. Từ bến sông dẫn vào xưởng thuộc da là một vệt bánh xe bò lún sâu, dọc đường vương vãi những nhúm lông cừu đen đúa, bết dính bùn đất khô quắt.

Lần theo vệt bùn rơi rụng, họ gõ cửa từng căn chòi lá lụp xụp của các gia đình nhận gia công xén lông cừu thuê.

Tại một gian chòi rách nát ở cuối ngõ, Khiêm phát hiện thêm hai thiếu niên phụ việc đang trùm chăn rơm sốt run bần bật. Trên mu bàn tay và cổ của cả hai đứa trẻ đều đã xuất hiện những nốt mụn nước viền đỏ, ở giữa bắt đầu lõm xuống và chuyển màu thâm đen khô khốc.

“Cha mẹ chúng đi làm thuê trên phố lớn, hai đứa ở nhà nhận cạo lông mười bó da cừu vụn do cai xưởng mang sang hôm kia.” Người hàng xóm ái ngại kể lại.

Kha Trọng Khiêm lập tức dùng que tre sạch chấm nước tro đun sôi lau rửa vùng da xung quanh nốt loét cho hai đứa trẻ, hướng dẫn người nhà tuyệt đối không gãi vỡ mụn nước và không dùng chung khăn áo.Bản đối chiếu dịch tễ trên tay ông giờ đây đã có mười một ca bệnh. Sự trùng khớp đạt đến một trăm phần trăm: không một ai làm việc với da dê hay da bò nuôi tại địa phương phát bệnh; toàn bộ nạn nhân đều tiếp xúc trực tiếp với lô da cừu chết bệnh mua lậu giá rẻ từ biên ải phía Bắc. Vòng lặp truyền nhiễm đã hoàn toàn lộ diện.

“Thủ phạm chính là lô da cừu đó!” Tuệ Nương căm phẫn thốt lên. “Bọn gian thương hám lợi nhập da súc vật ốm chết với giá rẻ mạt, mặc kệ sống chết của phu nghèo!”

“Không chỉ có vậy.” Kha Trọng Khiêm trầm giọng, ánh mắt hướng về phía con rãnh nước chảy vòng qua hông kho xưởng. “Nếu chỉ lây qua tiếp xúc da trầy xước, chúng ta khoanh vùng cách ly người bệnh là có thể ngăn chặn. Nhưng mầm độc này còn một con đường đào tẩu nguy hiểm hơn nhiều.”

Ông dẫn Tuệ Nương và A Mộc đi ngược về phía kho xưởng thuộc da. Bên dưới chân tường đá của xưởng, một rãnh nước thải sâu hoắm dẫn nước ngâm rửa từ các bể thuộc da chảy ra ngoài.

Kha Trọng Khiêm ngồi xổm xuống mép rãnh, giơ cao ngọn đèn lồng.

Nước trong rãnh đen ngòm sền sệt như bùn lầy, sủi bọt nhờn nhợt và bốc lên mùi hôi thối nồng nặc của thịt rữa ngâm vôi non. Đoạn bờ rãnh xếp bằng đá hộc đã nứt toác một mảng lớn chừng nửa sải tay. Dòng nước ngâm rửa ô uế đang cuồn cuộn rò rỉ qua khe nứt, chảy tràn thẳng vào con mương nước sinh hoạt chung chảy dọc xóm nghèo.

Tuệ Nương giật mình che miệng, mặt cắt không còn giọt máu “Trời ơi... Con mương này là nơi cả xóm gánh nước về lắng cặn nấu ăn, giặt giũ mỗi sáng! Nếu nước độc ngấm vào mương...”

“Toàn bộ cư dân xóm thợ, từ già đến trẻ, nếu có vết xước trên người hoặc dùng nước này rửa mặt, đều sẽ nhiễm phải mầm độc.” Ánh mắt Kha Trọng Khiêm đanh lại. Nguy cơ một vụ bùng phát diện rộng không còn là dự báo xa vời nữa, nó đang hiện hữu ngay dưới chân họ.

Đúng lúc Tuệ Nương và A Mộc vội vã chạy đi tìm đá hộc và rơm khô để đắp chặn tạm thời miệng rãnh nứt, không gian quanh Kha Trọng Khiêm bỗng khẽ dao động.

Một đốm sáng hình cầu màu lam nhạt cỡ đốt ngón tay từ từ hiện ra, lơ lửng ngay trước tầm mắt ông. Luồng sáng dịu mát nhưng giọng nói vang lên trong tâm thức lại mang âm hưởng kim khí lạnh lùng, dồn dập “Cảnh báo Chuyên viên Kha. Cảm biến sinh học ghi nhận mầm độc trong nguồn nước thải đang phát tán theo lưu tốc ba thước mỗi khắc. Nếu dòng chảy độc hại này hòa vào nhánh chính sông Cố Sơn trước giờ Thìn, chỉ số nguy cơ sụp đổ sinh học của thành Cố Sơn sẽ chạm ngưỡng chín mươi lăm phần trăm. Khi đó, Trạm Giám Sát sẽ buộc phải kích hoạt cơ chế cách ly tuyệt đối toàn khu vực.”

“Tôi hiểu.” Kha Trọng Khiêm đáp lại bằng ý nghĩ, giọng điệu điềm tĩnh mà kiên quyết. “Nguồn phát tán thực sự không chỉ là rãnh nước này, mà nằm ở căn hầm đá nơi chúng vừa cất giấu các bao tải da cừu. Tôi sẽ phong tỏa nó trước khi bình minh tới.”

Đốm sáng lam nhạt chớp nhẹ hai nhịp rồi thu nhỏ lại, hòa tan vào bóng đêm.

Kha Trọng Khiêm đứng dậy, bước nhanh về phía căn hầm đá phía sau xưởng. Nhờ sự dẫn đường của A Mộc, ông tìm thấy cánh cửa hầm bằng gỗ nghiến dày đóng chặt bằng một then sắt lớn. Then sắt không tra khóa đồng mà chỉ cài chốt trượt—nhóm người vận chuyển vội vã tẩu thoát nên không kịp khóa kín.

Khiêm cùng A Mộc dồn sức đẩy mạnh thanh then sắt. Cánh cửa nặng nề bật mở, phả ra một luồng khí lạnh ngắt kèm mùi da ẩm tanh nồng muốn nghẹt thở.

Bên dưới bậc thang đá ẩm ướt, hơn hai mươi bao tải gai chất đống lộn xộn trong góc hầm tối tăm. Nước bẩn từ các bao tải rỉ ra lênh láng trên mặt sàn đá, tí tách chảy vào một rãnh ngầm thông thẳng ra ngoài con mương sinh hoạt.

“Đúng là chúng rồi!” A Mộc thì thào, toàn thân run rẩy khi nhìn lại những bao tải chết chóc đã khiến cẳng tay cậu lở loét.

Kha Trọng Khiêm bước xuống, soi đèn dầu sát vào đống kiện hàng. Ông dùng một que gỗ nhọn cẩn thận vạch lớp vải bao tải rách bươm bết bùn đất ở đáy kiện hàng dưới cùng.

Lớp lông cừu đen đúa, bết dịch nhầy hôi hám lộ ra. Nhưng ngay dưới mép bao bì mục nát, một vật thể lạ đập vào mắt ông.

Đó là một dải niêm phong bằng vải gai thô đã bị xé rách một nửa. Trên dải vải gai vẫn còn dính chặt một miếng sáp đỏ thẫm hình tròn. Dưới ánh lửa bập bùng của ngọn đèn dầu, hình khắc trên miếng sáp đỏ hiện lên rõ mồn một: một vầng mặt trời rực lửa với mười hai tia sáng tỏa đều—ấn triện độc quyền của chính Giáo đoàn Nhật Thần.

Kha Trọng Khiêm nheo mắt nhìn mảnh sáp đỏ, ngón tay siết chặt que gỗ. Kẻ mang mầm độc gieo rắc tai ương xuống xóm thợ nghèo rồi đòi thiêu sống A Mộc để trừ tà, hóa ra lại chính là những kẻ khoác áo thánh thần ngự trên đỉnh đồi đá trắng.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.