Chương 2: Nồi Keo Bên Bếp Củi
Tiếng răng rắc khô khốc tựa như thanh củi mục bị bẻ đôi dội qua vách đá, kéo theo một luồng gió rít the the luồn qua kẽ liếp làm ngọn đèn dầu trên bệ lò chao đảo muốn tắt.
Mạc Dĩ Thành không chần chừ, lão bước vội tới bên bậu cửa, gạt thanh then tre nhìn ra ngoài. Phía chân trời đông triền Phong Lạc Lĩnh, lớp sương mây dày vốn trắng đục như bông nay rách toạc ra một đường ngoằn ngoèo, để lộ khoảng không tối sẫm hun hút của vực gió hư không. Khí lạnh buốt rợn người men theo kẽ nứt ấy rỉ xuống, cuốn theo những vụn băng li ti bay tạt vào sườn đồi.
“A Ngưu, chèn chặt then cửa lại!” Cụ Thành hạ giọng dặn dò, ánh mắt dõi theo vệt mây rách với vẻ nghiêm trọng khôn cùng, “Đêm nay khí lạnh ngoài vực chưa tràn xuống tới đáy lũng đâu, nhưng sáng mai chúng ta phải lên vách đông một chuyến. Vết rạn này không vá sớm, gió bão kéo đến sẽ xé toạc cả vạt mây che đầu xóm nhỏ.”
Đêm ấy, tiếng gió u u ngoài vách núi hòa cùng tiếng thở đều đặn của A Ngưu trên chiếc chõng tre. Cụ Thành nằm trằn trọc, khớp bả vai từng bị gió quất đau nhức từng cơn như nhắc nhở lão về sự mong manh của chốn nương thân này.
Chưa đợi đến canh năm, khi sương sớm còn phủ mờ mịt trên những đọt thông già, Mạc Dĩ Thành đã trở dậy. Lão quẹt bùi nhùi nhóm lại bếp lò đất nện. Từng que củi sồi khô nỏ bén lửa, nổ lách tách rồi bốc lên mùi thơm ngai ngái quen thuộc.
Lão cụ ngồi ghé bên mép ghế gỗ thấp, dùng thanh xẻng đồng khẽ gạt lớp váng mỏng đóng trên mặt vạc keo tùng non nấu từ hôm trước. Dưới hơi nóng âm ỉ của than hồng, chất nhựa màu hổ phách chầm chậm tan chảy, sóng sánh và dẻo quánh. Cụ chấm đầu que tre vào vạc, nhấc lên vê nhẹ chút keo đã nguội bớt giữa hai ngón tay rồi kéo ra. Sợi keo mảnh như sợi tơ tằm óng ánh vươn dài chừng một gang tay mà không hề đứt đoạn. Độ quánh dẻo này vừa khéo để ăn vào đá tảng và hòa lẫn linh khí mây trời.
“Cọt kẹt…”
Cánh cửa liếp khẽ đẩy ra, mang theo làn gió sớm se lạnh cùng tiếng bước chân rón rén. A Ngưu bước vào, theo sau là một cô bé chừng mười một, mười hai tuổi, mặc chiếc áo vải thô màu chàm đã bạc thếch đôi chỗ. Con bé có đôi mắt tròn xoe trong veo như nước suối đầu nguồn, hai má ửng hồng vì lạnh, trên tay cẩn thận bưng một chiếc bát sành bốc khói nghi ngút.
“Cụ Thành ơi, cụ dậy sớm thế!” A Ngưu đặt chiếc rổ tre lót lá chuối xuống chõng, bên trong là mấy củ khoai nướng vùi tro còn vương chút bụi than xám xịt.
Tiểu Đào khẽ nép sau lưng anh trai, hai tay dâng bát sành lại gần cụ Thành, giọng líu lo như chim sẻ: “Cháu chào cụ Thành ạ. Sáng nay mẹ cháu vừa dỡ mẻ ngô ngọt sau vườn, nấu cháo hoa ấm lắm, mẹ bảo cháu mang sang biếu cụ một bát ăn cho ấm bụng đỡ đau lưng.”
Mạc Dĩ Thành mỉm cười, những nếp nhăn nơi khóe mắt xô lại hiền từ. Lão đón lấy bát cháo nóng, mùi ngô non ngọt dịu thơm lừng lan tỏa khắp gian bếp nhỏ đơn sơ: “Tiểu Đào ngoan quá, để lão già này cảm ơn mẹ cháu nhé. Lại đây, hai đứa ngồi ghé vào bên lò cho ấm.”
Lão bẻ đôi củ khoai nướng, chia cho hai anh em rồi vừa thổi cháo vừa nhìn hai đứa trẻ, giọng trầm xuống đầy ân cần: “Hôm nay hai anh em có ra suối gánh nước hay hái rau rừng thì tuyệt đối không được đi ngược lên triền đông nghe chưa. Gió lạnh ngoài vực sâu rỉ qua vết rách trên màng mây, sương độc đóng thành băng mỏng quanh các gộp đá trơn lắm. Cứ quanh quẩn dưới lũng thấp, đợi cụ với anh A Ngưu trám kín vết rách trên đó rồi hẵng đi xa.”
A Ngưu vừa cắn miếng khoai nướng bùi bùi, vừa gật đầu lia lịa: “Con nhớ rồi cụ. Lát nữa con sang bên lán mượn thêm cuộn dây thừng bện vỏ cây tùng thật chắc để neo cụ trèo lên vách đông.”
Tiểu Đào chớp chớp mắt, ngây thơ hỏi: “Cụ Thành ơi, cái nồi keo dính quánh này thật sự vá được mây trên trời hả cụ?”
“Vá được chứ con,” Cụ Thành xoa đầu cô bé, ánh mắt nhìn vào lòng vạc rực sáng, “Cây tùng chịu gió sương ngàn năm mới chắt ra được giọt mủ, lòng người chịu khó gom góp thì trời đất cũng phải chiều theo.”Ăn xong bát cháo, cụ Thành bảo hai đứa trẻ thu dọn rồi bắt tay vào công đoạn quan trọng nhất. Lão ngồi xếp bằng trước bệ lò, hít một hơi thật sâu. Đan điền khẽ rung lên, lão vận chuyển chút linh lực ít ỏi của cảnh giới Luyện Khí tầng hai vốn tích lũy suốt hơn một trăm năm qua.
Dòng linh khí mỏng manh tựa như sợi chỉ xanh biếc men theo kinh mạch truyền xuống lòng bàn tay, rồi theo cán xẻng đồng hòa dần vào nồi keo đang sôi lục bục. Khí mộc linh thuần hậu từ cánh rừng cổ thụ dường như tìm thấy tiếng nói chung, quấn quýt lấy từng bọt khí nổ lách tách. Chất keo tùng dưới đáy đỉnh sứt quai bỗng ánh lên một tầng hào quang mờ ảo, dẻo dai hơn gấp bội.
Nhìn ngọn lửa củi sồi bập bùng, trong tâm trí cụ Thành bỗng hiện về bóng hình người sư phụ già năm xưa. Ngày ấy, cũng bên gian bếp lò này, sư phụ từng vỗ vai lão mà bảo: “Thành này, người tu tiên chuộng bay lượn trên chín tầng trời, nhưng đất dưới chân không vững thì mây cũng tan. Kẻ giữ lửa bách nghệ phàm trần như chúng ta, điều cốt lõi không phải là pháp lực ngập trời, mà là sự bền bỉ nhẫn nại. Nồi keo có thành, lòng người có vững, thì sóng gió ngút ngàn cũng chẳng thể lay chuyển.”
Lời dạy ấy, lão khắc sâu nơi đáy lòng suốt hơn một thế kỷ, chưa từng dám lãng quên.
“Úi chà, sáng sớm tinh sương mà Mạc lão ca đã đỏ lửa rôm rả thế này rồi sao?”
Một giọng nói the thé, mang theo điệu cười giả lả cất lên từ ngoài sân. Cánh cửa liếp bị gạt mạnh sang một bên, Trầm Hắc Thủy chống chiếc gậy trúc bước vào. Gã chấp sự ngoại môn khoác chiếc áo choàng màu xám tro viền tơ tằm, lưng hơi gù, đôi mắt hí đảo quanh gian lán rồi dừng lại trên vạc keo đang bốc khói.
A Ngưu vội vàng đứng bật dậy, chắp tay cúi đầu: “Tiểu nhân bái kiến Chấp sự đại nhân.”
Mạc Dĩ Thành cũng thong thả buông xẻng đồng, chống gối đứng lên hành lễ: “Lão hủ bái kiến Trầm chấp sự. Không biết sáng sớm đại nhân quang lâm lán củi tồi tàn này có điều chi sai bảo?”
Trầm Hắc Thủy phe phẩy cuốn sổ sách kiểm kê bọc da thuộc trên tay, nheo nheo đôi mắt chuột, cười khà khà: “Mạc lão ca đa lễ quá. Ta vừa đi tuần tra một vòng quanh rặng Phong Lạc Lĩnh. Tiện đường ghé qua nhắc lão ca một tiếng, đợt thu gom nhựa tùng non tháng này của khu tạp dịch các ngươi chậm trễ quá đấy nhé. Mấy vị sư huynh trên Vân Lam Phong đang cần một lượng lớn linh mủ để luyện chế đan dược phụ trợ cho chuyến đi bí cảnh sắp tới, nếu không nộp đủ định ngạch, phần linh cốc vụ đông của đám tạp dịch các ngươi e là khó mà giữ nguyên vẹn.”
“Bẩm Chấp sự đại nhân,” Cụ Thành điềm đạm đáp, giọng nói vững vàng không chút nao núng, “Mấy hôm nay gió lạnh hư không ngoài vực rỉ xuống bất thường, mủ thông trên triền đá đông đặc rất nhanh, đám trẻ phải cạo từng chút một. Lão hủ đang cố sức đun mẻ keo này để lát nữa cùng A Ngưu lên dán lại vạt mây rách bên vách đông, giữ ấm cho rừng tùng thì mủ mới tiết ra đều đặn được.”
Trầm Hắc Thủy nghe vậy liền liếc xéo vào vạc keo hổ phách sủi bọt, khóe môi khẽ giật giật lộ vẻ dò xét khác lạ. Gã tiến lại gần bệ lò nửa bước, ánh mắt đảo nhanh qua các góc lán củi, dường như muốn tìm kiếm điều gì đó nhưng ngoài mấy bó củi sồi và vạc keo sứt quai thì chẳng có vật chi đáng giá.
“Hừ, dán mây vá trời sao?” Trầm Hắc Thủy cười khẩy một tiếng mỉa mai, giọng the thé lạnh tanh, “Mấy trò thủ công vụn vặt của lũ phàm nhân các ngươi mà đòi can thiệp vào đại trận hộ sơn do các bậc tiền bối Kim Đan bố trí ư? Thôi được rồi, liệu mà gom cho đủ nhựa thông nộp lên Chấp Sự Đường trước ba ngày nữa. Bằng không, đừng trách bản chấp sự không nể tình đồng môn già cả!”
Nói đoạn, gã chấp sự phất mạnh tay áo, hậm hực quay gót bước ra khỏi lán củi.
Cụ Thành bước theo tiễn khách đến ngưỡng cửa. Nhìn bóng lưng hơi gù của Trầm Hắc Thủy khuất dần sau rặng trúc dại, lão cụ bỗng khựng lại. Ánh mắt tinh tường của một đời làm nghề thủ công chợt chú ý xuống lớp bùn đất ẩm ướt in dấu chân gã chấp sự vừa dẫm qua.
Dưới vết hằn sâu của đế giày bên phải, vương lại một vệt bột mịn màu đỏ sẫm kỳ quái. Giữa mùi khói sồi ấm nồng, vệt bột ấy tỏa ra một làn khí hôi tanh lờ lợ, ăn mòn lớp rêu xanh trên đất thành một lỗ thủng xám ngoét đang sủi bọt trắng li ti.
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
