Chương 6: Phù Vân Thính Phong

Màn sương lạnh bảng lảng trên bến Bình Than chớm tan khi mũi thuyền nan khẽ rẽ làn nước đục ngầu phù sa. Đào Tú Uyên đặt chân xuống ván thuyền bập bềnh, ngực áo tứ thân màu chàm thấm đẫm sương đêm. Sau lưng nàng, Tiêu Chấn Phong dùng mũi trường đao Trấn Uyên gạt nhẹ vào mỏm đá bờ kè, mượn đà đẩy con thuyền lướt êm ru ra giữa dòng sông Cái. Đào An ngồi thu lu ở khoang giữa, hai tay ôm chặt bọc vải điều chứa bài vị tổ tiên Cổ Am trước ngực, đôi mắt còn hoe đỏ nhưng môi mím chặt, không phát ra một tiếng động.

Tú Uyên ngồi xuống mũi thuyền, khẽ nén cơn buốt nhói đang cắn xé nơi lòng bàn tay trái. Vết rạch lấy máu tâm can đã thấm đỏ dải băng vải sạch, từng nhịp đập nơi cuống tim vẫn dội theo từng đợt râm ran buốt rát. Nàng khẽ duỗi ngón trỏ tay phải, búng một sợi huyền ty mảnh như tơ nhện xuống lòng sông.

Dưới đáy sâu ba trượng, khối trầm hương ngàn năm khẽ rung lên đáp lại. Cỗ rối Huyết Mộc sau khi mượn cọc lim của Cửu Khúc Thủy Trận để ghìm dòng xoáy ngầm đã nạp no thủy khí, nay chìm sát đáy bùn, lặng lẽ lướt theo bóng con thuyền nan tựa như một chiếc bóng đen khổng lồ dưới đáy nước. Sự gắn kết thần thức giữa nàng và cỗ rối kéo căng như một sợi dây đàn đáy vô hình; mỗi chuyển động của then máy nơi lồng ngực gỗ đều dội thẳng vào tâm trí nàng từng nhịp gõ khô khốc, vững chãi.

“Nàng nhấp ngụm nước ấm đi.” Giọng Chấn Phong trầm thấp vang lên bên tai. Chàng một tay cầm mái dầm khẽ khàng khua nước, tay kia chìa ra bầu nước bằng vỏ bầu khô. “Từ đây xuôi về bến Thăng Long chừng ba mươi dặm. Đi đêm trong sương, lũ tuần tiễu của quan phủ trên các đ**m canh đê khó lòng phát hiện, nhưng gió lòng sông lạnh thấu xương.”

Tú Uyên nhận lấy bầu nước, nhấp một ngụm nhỏ, hơi ấm lan tỏa làm dịu bớt cảm giác khô khốc nơi cuống họng. Nàng ngước nhìn bờ đê Đại Hà sừng sững chạy dài trong bóng mờ mịt. Dọc triền đê, thỉnh thoảng lại le lói vài đốm đuốc đỏ quạch của lính gác Đại Hà Doanh. Kể từ vụ lôi hỏa bộc phá bị ngăn chặn ở bến Bình Than, mạng lưới lính canh dường như đã bắt đầu nhốn nháo, tiếng mõ cầm canh điểm từng hồi dồn dập, gắt gỏng như muốn xé toạc màn sương mù sớm.

“Trịnh Bá Hùng không ngờ chúng ta có thể sống sót rời Bình Than.” Tú Uyên hạ giọng, ánh mắt sắc như lưỡi dao tiện lướt qua mặt nước cuộn sóng. “Nhưng một khi tin tức phân thân của Lạc Vô Nhai bị đánh tan truyền về kinh thành, lão sẽ lập tức siết chặt mọi ngả đường thủy bộ. Cửa ô Thăng Long bây giờ chẳng khác nào tấm lưới thép.”

Chấn Phong siết chặt cán dầm, mày kiếm hơi nhíu lại: “Kinh thành là địa bàn của Cấm Vệ và Bộ Công. Ba năm trước, Thần Cơ Doanh của ta bị vu hãm phản quốc cũng chính tại nơi ấy. Huynh đệ dưới quyền ta kẻ chết, kẻ bị đày ải, phần còn lại thì mất tích bí ẩn. Lần này trở lại, ta quyết không để máu của bọn họ chảy uổng phí.”

Đào An khẽ ngước lên, lí nhí: “Tú Uyên tỷ tỷ, chúng ta vào thành rồi thì ở đâu? Huyết Lạc Giáo có đuổi tới tận kinh đô không?”

Tú Uyên nghiêng người, đưa bàn tay còn lành lặn vuốt mái tóc bù xù lấm tấm giọt sương của đứa trẻ. Ánh mắt lạnh lùng thường ngày bỗng chốc mềm lại, đượm vẻ xót xa. Đứa trẻ này mới mười hai tuổi, đáng lẽ ra phải được ngồi trong buồng trò tập đẽo con rối chú Tễu, ngâm nga những khúc đồng dao làng quê, chứ không phải theo nàng phiêu bạt giữa lằn ranh sinh tử.

“Đệ yên tâm, tỷ đã có nơi sắp đặt.” Nàng khẽ đáp. “Chốn đó an toàn, đệ sẽ không phải trốn chui trốn lủi nữa.”

Khi vầng thái dương nhô lên khỏi rặng tre bãi bồi, rải những vệt sáng màu huyết dụ lên mặt sông Hồng cuộn đỏ phù sa, con thuyền nan lướt êm ả qua cửa ô ngoại thành, tiến vào bến nước sầm uất phía ngoài lũy thành Thăng Long. Nơi đây thuyền bè san sát, ghe gốm đỏ au từ mạn ngược xuôi về ken dày cùng thuyền chở gạo xứ Đoài. Tiếng hò dô, tiếng va cọ ken két của mạn thuyền gỗ cùng mùi cá khô, mùi phù sa nồng nặc lấp kín không gian.

Tú Uyên khẽ giật sợi huyền ty, dẫn dắt cỗ rối Huyết Mộc rẽ vào một lạch nước sâu dưới chân gốc đa ngàn năm cắm rễ chằng chịt sát mép sông. Dưới đáy nước đầy rêu và bùn đặc, thân rối trầm hương khép chặt khoang ngực, then máy khóa khớp, hoàn toàn ẩn mình như một khúc gỗ mục nằm im dưới dòng chảy.

Sau khi giấu rối chu toàn, ba người bước lên một lối mòn thoai thoải dẫn lên bãi cát ven sông. Cách bến đò chừng một thôi đường, nép mình dưới rặng liễu rủ thướt tha và giàn hoa thiên lý ngát hương là một quán trà mái tranh liêu xiêu mang tấm biển gỗ mộc khắc ba chữ: “Phù Vân Quán”.

Trước hiên quán đặt vài bộ chõng tre đã mòn nhẵn bóng. Một chiếc ấm đất nung to đang sôi sùng sục trên bếp trấu, tỏa ra làn khói nghi ngút thơm lừng mùi trà mạn ướp hoa sói. Đằng sau chiếc sập gụ đặt bên chái nhà, một người phụ nữ trạc chừng bốn mươi lăm tuổi đang thong thả têm trầu. Bà vận chiếc áo tứ thân màu nâu non mộc mạc, mái tóc vấn gọn gàng trong vành khăn nhung đen, đôi mắt phượng dù đượm vẻ sương gió nhưng vẫn ngời lên nét tinh anh khó lường.

Vừa thấy bóng ba người bước vào, người phụ nữ khẽ ngước mắt, bàn tay têm trầu khựng lại trong chớp mắt nhưng nét mặt vẫn giữ vẻ đon đả của một bà chủ quán đón khách thương hồ: “Mời ba vị khách quan vào quán uống ngụm nước chè tươi cho ấm giọng. Sông Cái sớm nay sương dày gió độc lắm.”

Tú Uyên không vội ngồi xuống ghế tre. Nàng bước tới trước sập gụ, tay phải đặt lên mặt bàn gỗ, mười đầu ngón tay khẽ gõ nhẹ xuống mặt ván theo một nhịp điệu kỳ lạ: ba nhịp nhanh, hai nhịp chậm, rồi một nhịp gõ bằng đầu móng tay sắc gọn tựa như tiếng con rối Tễu lội nước gõ chày then buồng trò.

Bà Ba Liễu giật mình, chiếc lá trầu trên tay rơi nhẹ xuống đĩa sứ. Đôi mắt sắc sảo của bà dán chặt vào mười đầu ngón tay chằng chịt vết chai và sẹo rách của Tú Uyên, rồi chuyển sang vết thương quấn dải vải sạch nơi bàn tay trái.

“Khúc 'Tễu giã cối'...” Liễu Nương thì thào, giọng run lên khe khẽ. Bà đứng bật dậy, bước nhanh ra nhìn quanh quất bến sông rồi vội vã cài then cánh cửa liếp của gian quán lại.

Khi bóng tối mờ mờ phủ xuống gian nhà tranh, Liễu Nương quay lại, đôi mắt ngấn lệ nhìn Tú Uyên: “Cháu... cháu là con gái của anh Đào Trọng? Đào Tú Uyên phải không?”

Tú Uyên cúi đầu hành lễ, giọng nghẹn lại: “Tiểu nữ bái kiến Liễu nương. Nhiều năm không gặp, bá mẫu vẫn khỏe chứ?”

Đào An lúc này cũng ôm bọc vải điều bước tới, lễ phép cất tiếng: “Cháu chào Liễu nương ạ.”

Liễu Nương ôm chầm lấy Đào An, rồi nắm chặt lấy đôi bàn tay lạnh ngắt của Tú Uyên, bàn tay thô ráp của một người từng mấy chục năm ngâm mình dưới nước múa rối run rẩy x** n*n từng vết chai sẹo: “Trời phật có mắt! Ba năm trước nghe tin phường Cổ Am gặp đại nạn, cả làng bị huyết hỏa thiêu rụi, ta cứ ngỡ cốt nhục của anh Trọng đã không còn ai... Không ngờ cháu vẫn sống, lại còn bảo bọc được đứa em họ này!”

Ánh mắt Liễu Nương chuyển sang người thanh niên cao lớn khoác trường bào màu lam sẫm đứng phía sau. Khi nhìn thấy thanh trường đao Trấn Uyên với hoa văn chạm khắc mây lửa thời Lý sau lưng chàng, ánh mắt bà thoáng biến đổi, sắc lạnh như một lưỡi sào ngầm: “Trường đao Trấn Uyên... Vị tráng sĩ này chẳng lẽ là Tiêu Chỉ Huy Sứ của Cấm Vệ Thần Cơ Doanh năm xưa?”

Chấn Phong vòng tay hành lễ, giọng trầm ấm: “Tiêu Chấn Phong bái kiến Liễu nương. Vãn bối nay chỉ là một kẻ mang án oan bèo bọt chốn giang hồ, may mắn được đồng hành cùng Tú Uyên cô nương.”Liễu Nương thở dài một tiếng, khẽ lắc đầu: “Oan khiên ngập trời, kẻ ngay phải trốn chui trốn nhủi, lũ tà ma gian thần lại chễm chệ chốn cung đình. Ta mở quán trà Phù Vân ở bến sông này mười mấy năm, ngoài mặt là b*n n**c chè cho đám thương lái, thực chất là giữ trạm liên lạc ngầm của Thần Khôi Thất Phường. Mọi tin tức xuôi ngược dòng sông Cái đều không qua nổi mắt ta.”

Bà quay sang nhìn Tú Uyên, nhận ra sắc mặt nàng trắng bệch và dáng vẻ tiều tụy: “Cháu bị hao tổn tinh lực nặng lắm phải không? Nhìn thần sắc tiều tụy cùng những vết nứt nơi đầu ngón tay, có phải cháu vừa dốc cạn tâm lực tương thông với Thần Khôi?”

Tú Uyên khẽ gật đầu: “Quả không giấu được Liễu nương. Đêm qua ở Bình Than, tà giáo dùng Huyết Thi Lỗi định phá cọc lim của Cửu Khúc Thủy Trận, cháu buộc phải mở khoang ngực cỗ rối Huyết Mộc để khóa cọc lim, ghìm mạch nước. Cháu đến đây hôm nay, điều trước hết là muốn cậy nhờ Liễu nương che chở cho bé Đào An. Chốn kinh thành giông bão ngút trời, cháu và Tiêu huynh sắp phải bước vào hang hùm miệng cọp, không thể để đứa trẻ này gặp nguy hiểm.”

Đào An nghe vậy thì níu chặt lấy vạt áo Tú Uyên, mắt rơm rớm: “Tú Uyên tỷ tỷ, đệ không sợ chết đâu! Đệ muốn đi cùng tỷ để báo thù cho cha mẹ!”

“An đệ!” Tú Uyên quỳ một chân xuống, hai tay giữ chặt vai đứa trẻ, giọng đanh thép nhưng chứa chan tình cảm. “Báo thù không phải là lao vào chỗ chết. Đệ là giọt máu duy nhất của thúc phụ, là người nắm giữ bài đồng dao mật mã của buồng trò Cổ Am. Nếu đệ có mệnh hệ nào, phường Cổ Am sau này lấy ai nối dõi ngọn đèn hương khói? Đệ ở lại đây với Liễu nương, vừa học thêm ngón nghề, vừa giúp tỷ làm tai mắt bến sông. Đó mới là việc của một đấng nam nhi Cổ Am.”

Đào An cắn chặt môi, nhìn vào ánh mắt kiên định của tỷ tỷ, cuối cùng gật đầu thật mạnh: “Đệ hiểu rồi... Đệ sẽ ở lại nghe lời Liễu nương, chờ tỷ và Phong ca ca khải hoàn trở về.”

Chấn Phong mỉm cười, đưa bàn tay to lớn xoa đầu đứa trẻ: “Nhóc con ngoan lắm. Khi nào xong việc, ta sẽ dạy đệ mấy thế đao phòng thân.”

Liễu Nương gật đầu hài lòng, bà bước về phía góc chái bếp, khẽ dùng chân xoay nhẹ một chiếc cối xay đá cũ kỹ. Lập tức, một tiếng cạch khô khốc vang lên từ lòng đất, mảng ván sàn bằng gỗ lim dày cộp từ từ trượt sang bên hông, để lộ ra một bậc thang đá hun hút dẫn sâu xuống lòng đất. Dưới hầm ngầm thoang thoảng mùi thuốc bắc và tiếng nước chảy róc rách của một nhánh thủy đạo nối thông ra lòng sông Hồng.

“Đây là mật thất buồng trò của Thần Khôi Phường năm xưa lập nên.” Liễu Nương ôn tồn bảo Đào An. “Bên dưới có đủ lương khô, nước ngọt và các dàn cơ quan sào nước phòng thủ, dù có trăm tên cấm vệ ập vào cũng không phá nổi. Cháu xuống đó nghỉ ngơi cho lại sức.”

Đào An ngoan ngoãn ôm bọc bài vị bước xuống hầm đá. Nắp hầm từ từ khép lại, trả lại vẻ tĩnh mịch cho gian quán nhỏ.

Chờ cho đứa trẻ đã an toàn, Chấn Phong rút chiếc thẻ sắt đen từ trong đai lưng ra, đặt lên mặt bàn tre: “Liễu nương, người hãy nhìn vật này.”

Liễu Nương cúi xuống, khi nhìn thấy đóa sen bốn cánh lồng chữ “Công” cùng ba nét sổ dọc khắc chìm, sắc mặt bà lập tức đanh lại, đôi mày nhíu chặt: “Thẻ sắt bí mật của Tả Tham Tri Trịnh Bá Hùng! Vật này chỉ trao cho lũ tâm phúc tử sĩ dùng để điều động quân lương và binh khí cấm. Các cháu đoạt được nó ở đâu?”

“Ở bến Bình Than.” Tú Uyên đáp, ánh mắt lạnh băng. “Trịnh Bá Hùng đã cấp thuốc nổ và lính tuần cho Huyết Lạc Giáo, toan phá đê hòng đổ tội cho Cổ Am và Cấm Vệ. Lão chính là kẻ đứng sau bức màn nhung thao túng tất cả.”

Liễu Nương thở dài một hơi, giọng chùng xuống: “Quả đúng như ta phán đoán. Mấy tháng qua, tai mắt của ta dọc các bến thuyền phát hiện đám thương thuyền của phủ Trịnh liên tục vận chuyển gỗ lim, sắt thép và những thùng hàng bốc mùi máu tanh nồng về mật phủ bên bờ hồ Tây. Nhưng điều đáng sợ hơn cả...” Bà ngừng lại, nhìn thẳng vào mắt Tú Uyên. “...Chính là nửa cuốn bí phổ 'Hồn Mộc Khôi Lỗi' mà phụ thân cháu liều chết bảo vệ năm xưa, hiện đang nằm trong tay Trịnh Bá Hùng.”

Trái tim Tú Uyên giật thót một cái, mười đầu ngón tay nàng siết chặt lại đến mức đầu móng găm sâu vào lòng bàn tay quấn vải: “Liễu nương nói sao? Nửa cuốn bí phổ... không phải do Lạc Vô Nhai cướp đi sao?”

“Lạc Vô Nhai chỉ cướp được phần tàn tịch về tà thuật luyện thi.” Liễu Nương lắc đầu. “Còn nửa cuốn ghi chép về tâm pháp 'Hồn Mộc' và then máy cơ quan của Thần Khôi Thất Phường, lão đã dâng cho Trịnh Bá Hùng như một món sính lễ để đổi lấy sự bảo bọc của triều đình và nguồn thuốc nổ công phá. Tên quan tham đó giấu cuốn sách trong một chiếc tủ đá cẩm thạch đặt tại mật thất thư phòng, ngày đêm sai thợ cơ quan nghiên cứu hòng chế tạo đội quân rối hộ vệ riêng cho mưu đồ soán vị.”

Chấn Phong đập mạnh tay xuống bàn, thanh âm căm phẫn: “Phủ Tả Tham Tri phòng thủ như tường đồng vách sắt, cấm vệ tuần tra ba lớp, tường cao hào sâu. Muốn lọt vào thư phòng của lão chẳng khác nào đi vào cửa tử.”

“Đường trên cạn thì không thể, nhưng đường nước thì có thể.”

Liễu Nương đứng dậy, tiến tới bàn thờ Phật ở góc nhà, nhấc chiếc ống tre đựng thẻ hương xuống. Bà rút từ đáy ống tre ra một tấm da dê cũ kỹ nhưng vẽ chi tiết từng đường nét mực son, cẩn thận trải rộng ra mặt bàn.

Tú Uyên chăm chú nhìn vào tấm bản đồ. Đó là mạng lưới cống ngầm thoát nước chằng chịt nối từ một nhánh của sông Tô Lịch luồn thẳng dưới chân tường thành, xuyên qua đáy hoa viên rồi dẫn tới hồ nước nhân tạo ngay sát vách thư phòng phủ họ Trịnh.

“Trịnh Bá Hùng xây phủ đệ dựa trên thế thủy lợi phong thủy, nhưng lão không ngờ rằng người thiết kế mạng lưới rãnh nước ngầm này hai mươi năm trước chính là một bậc tiền bối của Thần Khôi Phường chúng ta.” Giọng Liễu Nương trầm xuống, từng lời đanh thép rành rọt. “Đêm mai là đại thọ năm mươi tuổi của Trịnh Bá Hùng. Cả phủ đệ sẽ mở tiệc mừng thọ lớn, thuyền hoa đón quan khách cập bến dập dìu, cống ngầm sẽ mở van xả nước để dọn hoa viên cho yến tiệc. Đó là thời cơ duy nhất để hai cháu men theo rãnh nước đột nhập vào mật thất.”

Tú Uyên nhìn chăm chú vào con đường nước ngầm vẽ bằng mực đỏ, bàn tay nắm chặt lấy sợi huyền ty chủ nối với cỗ rối Huyết Mộc dưới lòng sông sâu.

Ánh mắt nàng bừng lên một ngọn lửa sắc lạnh, trầm giọng nói: “Đêm mai, món nợ máu của Cổ Am sẽ bắt đầu được thanh toán.”

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.