Chương 8: Tiếng Mõ Trong Đêm Lũ

Tiếng mõ tre đầu vàm rạch Cầu Tre gióng lên từng hồi chát chúa, quất thẳng vào màn mưa mịt mùng khiến Ba Khiêm bật dậy trối chết. Y quáng quàng chộp lấy cây đèn bão trên vách, ngọn lửa vàng vọt chao đảo dữ dội theo từng cơn gió giật. Ngoài sân, nước mưa tuôn xối xả từ mái tranh, trút như thác đổ xuống rãnh thoát nước mé hiên.

“Nước tràn rồi! Thằng Tấn, chú Ba, mau ra mé rạch!”

Giọng cụ Ba Hòa cất lên sang sảng giữa tiếng sấm rền. Tuổi bảy mươi tư, chân còn khập khiễng vì cơn choáng váng mấy hôm trước, vậy mà cụ đã vớ chiếc phảng cùn cài bên vách, quấn chặt khăn rằn lên đầu rồi lao thẳng ra màn đêm.

“Ba! Ba ở lại trong nhà đặng tụi con lo!” Khiêm thét lên, ruột gan thắt lại. Nhưng bóng lưng còng của cha già đã khuất dạng sau rặng cau mịt mù hơi nước.

Trọng Tấn vác liền hai bó cọc tre trên vai, chân thoăn thoắt đạp nước phóng theo: “Chú Ba gom mớ bao bố với tro trấu ngoài chái bếp, lẹ lên chú!”

Khiêm không kịp xỏ dép, chân trần quặp chặt lấy nền đất ướt nhão nhoét. Y ôm ghì xấp bao tải gai lấm bùn, vừa chạy vừa th* d*c ra tận mé rạch Cầu Tre. Cảnh tượng trước mắt làm y lạnh toát sống lưng. Đèn đuốc le lói khắp các bờ liếp, tiếng người kêu la hòa lẫn tiếng nước gầm réo. Nước từ sông lớn đổ dồn vào rạch Bến Cát rồi cuồn cuộn tràn qua rạch Cầu Tre, đục ngầu phù sa đỏ quạch, réo sôi sùng sục. Dòng nước dữ đã l**m sát mép bờ bao vừa đắp hồi chiều, mấp mé tràn qua mặt liếp trầu.

Bác Năm Đước đứng dầm chân dưới sình lầy, hai tay ghì chặt một thân chuối rừng ngăn dòng xói lở, cất giọng khản đặc “Anh Ba ơi! Con nước ròng ban chiều hổng chịu rút, nước ngược từ sông lớn dồn vô dữ quá! Tràn liếp bây giờ!”

Ở miệt Hóc Môn này, giống trầu hương rễ ăn nổi trên mặt bùn non, chịu ẩm chứ tuyệt đối không chịu ngập. Nước lũ dâng ngập quá một gang tay chừng non nửa đêm thôi thì rễ tơ sẽ úng thối tức khắc, lá vàng rũ rượi, coi như sáu công vườn trầu ba đời gầy dựng tan tành thành bãi đất hoang.

Giữa lúc ngặt nghèo, Khiêm sững sờ nhìn thấy cha mình. Cụ Ba Hòa đã lội hẳn xuống dòng nước xiết sâu tới ngang thắt lưng. Làn nước lạnh buốt rạch Cầu Tre táp từng đợt vào b* ng*c gầy guộc của ông già bảy mươi tư tuổi. Hai bàn tay khẳng khiu, gân guốc của cụ run rẩy cắm từng cọc tre sâu vào lòng bùn, rồi chèn từng bao trấu độn đất sét vào chỗ rò rỉ.

“Thằng Tấn! Đóng thêm cọc tràm phía này con! Chú Năm, dậm chân cho đất vẻ lại, hổng cho xé bờ!” Cụ Ba vừa dằn bao trấu vừa thét to, nước mưa xối ướt đẫm râu tóc bạc phơ, dính bết vào hai gò má nhăn nheo.

Một lọn sóng lớn thình lình ập tới, đánh mạnh vào mạn sườn làm cụ Ba lảo đảo, chới với toan ngã chúi xuống họng nước xoáy.

“Ba!”

Khiêm gào lên một tiếng xé ruột. Không còn nỗi sợ sệt hèn nhát, không còn mặc cảm tội lỗi của kẻ thua bạc quẫn trí, y vứt phăng bó bao tải trên tay, lao mình nhảy ùm xuống dòng nước đục ngầu. Nước lạnh buốt táp thẳng vào mặt, nhưng Khiêm đã kịp vươn đôi cánh tay rắn chắc ôm ghì lấy bờ vai gầy nhom của cha, kéo cụ tựa vào bờ đất.“Ba lên bờ đi! Để con! Con chịu chết thay cho vườn trầu, ba lên đi kẻo lạnh!” Khiêm nghẹn ngào thốt lên, nước mắt hòa lẫn nước mưa mặn chát nơi khóe miệng.

Cụ Ba Hòa th* d*c, ngước mắt nhìn đứa con trai lầm lỡ. Đôi mắt già nua đôn hậu rực lên một ngọn lửa kiên nghị lạ thường. Cụ gạt tay con, bàn tay thô ráp bấu chặt vào bờ vai Khiêm “Đất của tổ tiên, mạng của xóm làng, qua còn thở thì hổng có bỏ liếp trầu! Mầy muốn chuộc tội thì đứng vững hai chân xuống bùn, cùng xóm đắp bờ bao!”

Tiếng nói trầm hùng của người cha như một hồi chuông giáng thẳng vào tâm can Khiêm, xé toạc mọi nỗi tự ti, hèn nhát bấy lâu nay. Đất này là mồ hôi, là máu thịt của ông nội, của cha, của người anh hai đã khuất. Vậy mà suýt chút nữa y đã đem dâng sáu công vườn cho canh bạc đỏ đen của lũ vô loài! Một luồng sinh lực sôi sục bùng lên trong huyết quản.

“Dạ! Con giữ liếp với ba!”

Khiêm hét lớn rồi quay sang quát to át cả tiếng gió gầm: “Tấn! Đưa cọc tre đây cho chú!”

Y dang hai chân cắm chặt xuống đáy bùn lầy, dùng bờ vai vạm vỡ ghìm chặt thanh cọc tre cho Trọng Tấn nện vồ chan chát. Bùn non bắn lên mặt, lên áo lem luốc. Khiêm bốc từng tảng đất sét dẻo quánh, nhồi chặt vào miệng bao bố rồi cùng bác Năm Đước đè chặt mép bao xuống chân đê.

Dân làng xúm xít quanh bờ liếp. Mấy chục con người dầm mưa dãi gió, lưng tựa lưng, chân ghì bùn tạo thành một bức tường thành sống che chở cho từng nọc trầu non. Sau hơn nửa giờ quần thảo cật lực, mép bờ bao quanh vạt trầu xóm dưới tạm thời được nâng cao thêm một gang tay, chặn đứng những con sóng đỏ quạch chực chờ tràn vào liếp rẫy.

Cụ Ba Hòa vịn vào một gốc cau già, đứng th* d*c từng cơn. Trọng Tấn quàng chiếc khăn rằn khô lên cổ nội, đôi mắt đỏ hoe vì thương và lo.

Thế nhưng, Ba Khiêm đứng dưới rãnh mương bỗng thấy điều chẳng lành. Nước ngoài sông lớn vẫn cuồn cuộn dâng, nhưng kỳ lạ thay, toàn bộ lượng nước mưa trút xuống vạt vườn lại không hề chảy xuôi ra ngọn rạch như mọi năm. Mực nước trong lòng mương nội đồng dâng lên ùng ục từng tấc một, đen ngòm và đứng im lìm một chỗ.

Khiêm lau vệt bùn trên trán, rọi ngọn đèn bão mờ mờ nhìn dọc theo con mương thông ra mé cống Ba Hào. Y dỏng tai nghe ngóng. Bình thường vào mùa lũ, cửa cống Ba Hào luôn phát ra tiếng nước tuôn xối xả réo vang như thác đổ để xả lũ ra sông lớn. Đêm nay, phía cống Ba Hào lại im bặt một cách rợn người, chỉ có tiếng nước ứ nghẽn vỗ ì ọp vào bờ liếp.

Linh tính mách bảo điều hiểm ác, Khiêm quay sang Trọng Tấn, giọng run lên vì căm giận “Tấn! Cống Ba Hào bị nghẽn rồi. Nước trong mương hổng thoát ra được một giọt nào hết trơn! Có đứa cố tình đắp đập chặn họng cống đặng dìm chết vườn trầu làng mình rồi!”

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.