Chương 7: Bàn Tay Nối Những Bờ Mương

Sấm sét chớp nháng xé toạc vòm trời đen đặc phía vàm rạch Bến Cát. Gió chướng thốc từng cơn lạnh buốt làm rặng cau ngả nghiêng, cuốn tạt những vệt khói tro trấu vừa un ấm liếp trầu. Đứng trên bờ mương, cụ Ba Hòa siết chặt chiếc gậy tre, chòm râu bạc rung rinh trong gió. Cụ cất giọng rành rọt, át cả tiếng sấm ục ục gầm gừ đằng xa “Nước thượng nguồn dồn về rồi đó! Mau lên bà con, rạch Bến Cát mà tràn qua rạch Cầu Tre thì mấy bờ liếp thấp xứ này ngập trắng bụng. Mau đắp bờ bao!”

Trọng Tấn lau vội giọt mồ hôi cay xè nơi khóe trán, quăng bớt chiếc áo cộc lên bờ liếp, rồi nhảy ùm xuống lòng rạch Cầu Tre. Bùn phù sa ngập lút bắp đùi, lạnh ngắt. Cậu ngoái lại hô lớn “Mấy anh em bên xóm Giữa qua phụ một tay! Đào bùn đóng bao, chèn chặt mấy chỗ hổng!”

Tiếng hô của Tấn như mồi lửa châm vào lòng cánh thanh niên Tân Thới Nhất. Đám trai tráng hò reo nối nhau nhảy xuống nước. Người dùng vá sắt xắn từng tảng đất sét dẻo quánh, người thoăn thoắt vác lên vai chuyền cho các lão nông chèn chặt quanh chân cọc tràm. Những bờ bao ngăn nước lũ dần được đắp cao lên từng tấc, kiên cố ôm lấy vạt trầu xanh.

Ba Khiêm đứng chơ vơ trên bờ liếp xóm dưới, đôi bàn tay gầy gò bồn chồn mân mê vạt áo bà ba đen. Nhìn bà con lối xóm hì hục ngâm mình dưới nước bùn dơ dáy, trong lòng Khiêm trào lên nỗi ngượng ngùng, xấu hổ khôn nguôi. Suốt bao năm qua, y chỉ biết mải mê chốn thị thành, đem bạc cúng cho sòng lú của Biện Hùm, bỏ mặc cơ nghiệp cha ông cho đứa cháu nội đích tôn gồng gánh. Bây giờ đứng đây, đối diện với những ánh mắt chất phác của chòm xóm, Khiêm thấy hai chân mình nặng trĩu như đeo chì.

Chợt một tiếng cọc tre gãy rắc làm dòng nước siết xoáy mạnh vào chân bờ bao mé nhà anh Tư Tốt. Tấn gồng mình ôm lấy tảng đất sét lớn nhưng trượt chân suýt ngã sấp mặt. Thấy cháu chới với, ruột gan Khiêm thắt lại. Mọi e dè tan biến, Khiêm nghiến răng lội ào xuống mương “Tấn! Đưa tảng đất đó cho chú Ba!”

Khiêm luồn hai cánh tay bấu chặt vào bờ bùn, cùng Tấn ghì chặt mép đất. Nước rạch ngập tới ngang hông, tạt vào ngực lạnh ngắt nhưng Khiêm không màng tới. Y quơ lấy cây búa gỗ nằm trên bờ, vớ mấy cây cọc tre vót nhọn cắm phập xuống lòng bùn sâu hoắm, rồi dùng hết sức bình sinh giáng từng nhát búa nện chan chát “Đóng dày cọc vô! Phải ken bẹ dừa nước đằng trước rồi mới đổ đất sét nện chặt!”

Tấn ngẩng lên nhìn chú, ánh mắt ngỡ ngàng rồi bỗng ánh lên niềm cảm kích chân thành “Dạ, chú Ba đóng thêm hai cọc mé này nữa đặng giữ cái đăng!”

Thấy Ba Khiêm xông xáo chẳng nề hà dơ bẩn, bác Năm Đước đứng trên bờ cũng cười ha hả, tiếng cười vang dội xua tan vẻ ảm đạm của cơn dông “Khá lắm thằng Ba! Tay mầy cầm búa nện cọc coi bộ bén hơn cầm mấy con bài tây đó nghen! Cứ vậy mà làm, đất này có mồ hôi của mầy thì cây trầu hổng phụ đâu con!”

Giữa lúc nhịp công việc đang hối hả chạy đua cùng con nước, từ phía đường mòn rợp bóng cau, tiếng quang gánh kĩu kịt rộn rã kéo tới. Út Duyên cùng mấy thím, mấy chị trong xóm tất tả gánh nước chè xanh nghi ngút khói và những thúng khoai mì luộc bốc mùi thơm lừng ra tận mé rạch.

“Bà con ơi, tạm nghỉ tay uống miếng nước chè cho ấm bụng nè!” Giọng thím Năm lảnh lót.

Út Duyên đặt gánh xuống gốc dừa già, vén lọn tóc mai ướt đẫm mồ hôi. Cô rót đầy một gáo dừa nước chè xanh sóng sánh, rảo bước lại mé mương nơi Trọng Tấn đang trèo lên bờ liếp. Đôi má ửng hồng vì đi vội, Duyên ngập ngừng đưa gáo nước cho Tấn, nụ cười bẽn lẽn như cánh hoa cau chớm nở “Anh Tấn... uống miếng nước chè cho đỡ lạnh. Em luộc củ mì bở rệu, có rắc chút muối mè ăn dằn bụng đặng lấy sức.”Tấn nhận lấy gáo dừa, bàn tay sạm bùn non khẽ chạm vào ngón tay thon thả của Duyên làm chàng trai trẻ thoáng bối rối, ngực đập rộn ràng. Cậu hớp một ngụm nước chè chan chát rồi ngọt lịm nơi cổ họng, ấm sực cả lồng ngực “Cảm ơn Út nghen. Có nước chè của Út với mấy thím, tụi tui đắp tới sáng cũng hổng biết mệt.”

Ánh mắt hai người giao nhau ngập tràn vẻ thẹn thùng nhưng thắm đượm nghĩa tình miệt vườn mộc mạc. Bên cạnh, Ba Khiêm đón lấy củ khoai mì từ tay thím Năm, cắn một miếng nghẹn ngào. Vị ngọt bùi của củ mì bãi bồi cùng sự săn sóc không chút hờn trách của chòm xóm khiến sống mũi y cay xè.

Hoàng hôn tắt hẳn nhường chỗ cho bóng tối mịt mùng. Bờ bao quanh vạt trầu xóm dưới đã được tôn cao hơn mặt nước rạch Cầu Tre gần hai gang tay, vững chãi như một bức tường thành chở che cho từng nọc trầu non.

Tối mịt, tại khoảng sân gạch trước nhà cụ Ba Hòa, ngọn đèn bão được treo lên cành vú sữa tỏa ánh sáng vàng vọt, ấm cúng. Dân làng tề tựu đông đủ, ai nấy ngồi quây quần trên những chiếc chiếu cói trải tạm. Cụ Ba Hòa ngồi xếp bằng giữa chiếu, chiếc bình tích ủ chè xanh nghi ngút khói đặt ngay ngắn bên khay trầu.

Bác Năm Đước rít một hơi thuốc rê, nhả khói trắng đục rồi cất giọng “Bờ mương tuy đắp xong nhưng nước ngoài sông Sài Gòn đang dâng cao lắm. Đêm nay mà mưa dầm trút xuống, hổng chừng nước xé bờ rạch Bến Cát tràn vô họng cống Ba Hào. Cần phải chia ca trực nước, hễ mấp mé tràn bờ là gõ mõ báo tin liền đặng xúm lại hộ đê.”

Cụ Ba Hòa gật đầu tán thành, ánh mắt đôn hậu nhìn quanh từng gương mặt sạm nắng “Chú Năm nói phải đó. Giữ đất, giữ trầu là chuyện sống còn của cả làng mình. Đêm nay, qua chia làm hai ca. Ca đầu từ giờ tới quá nửa đêm do chú Năm với anh Tư Tốt ngoài vàm rạch. Ca sau tới sáng, thằng Tấn với thằng Ba Khiêm canh chừng cống Ba Hào nghen.”

Nghe cha già gọi đích danh mình nhận việc hệ trọng, Ba Khiêm vội chắp tay, giọng run run mà kiên quyết “Dạ ba, con xin thức trọn đêm canh nước. Cống Ba Hào hễ có bề gì, con đền mạng cũng hổng hết tội với xóm làng.”

“Tội gì mà đền mạng mầy!” Bác Năm Đước vỗ bốp vào vai Khiêm một cái đau điếng rồi cười xòa. “Biết lo cho vườn trầu của cha ông là tốt rồi. Cả xóm này lưng tựa lưng, hổng có ai bỏ rơi ai hết ráo!”

Tiếng cười nói râm ran xua tan đi sự nặng nề của món nợ trăm đồng và bóng ma đồn điền cao su đang rình rập. Tình làng nghĩa xóm, sự hòa giải ấm áp giữa cha con, chú cháu như dòng nước mát lành tưới tắm vào tâm can từng người, thắp lên niềm tin sắt đá rằng mảnh đất thiêng liêng này sẽ chẳng bao giờ bị bứng gốc.

Mọi người lục tục ra về khi đêm đã về khuya. Cả xóm vườn chìm vào giấc ngủ chập chờn sau một ngày dài kiệt sức vì bùn đất. Mưa bắt đầu rơi rả rích rồi nặng hạt dần, gõ lộp độp trên tàu lá chuối ngoài hiên.

Cụ Ba Hòa nằm trên chiếc chõng tre hàng ba, trằn trọc lắng nghe tiếng gió rít qua rặng cau. Trọng Tấn và Ba Khiêm ngồi dựa lưng vào vách ván, chốc chốc lại hé mắt nhìn ra khoảng sân mờ mịt nước.

Đúng lúc canh ba thanh vắng, khi bầu trời thình lình giáng xuống một lằn chớp xé toạc màn đêm kèm theo tiếng sấm sét nổ vang trời lở đất, từ phía chòi canh đầu vàm rạch Cầu Tre bỗng rộ lên những âm thanh báo động dồn dập.

“Cốc! Cốc! Cốc! Cắc... cắc... cốc... cốc!”

Tiếng mõ tre báo động khua vang dồn dập, xé toạc không gian tĩnh mịch, hòa lẫn trong tiếng mưa xối xả và tiếng nước cuồn cuộn gầm gào ngoài bờ rạch.

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.