Chương 5: Lời Nguyện Dưới Gốc Cau

Cơn mưa rào đêm qua dứt hẳn lúc trời vừa hửng sáng, để lại trên những đọt cau cao vút lớp sương mỏng manh còn đọng giọt. Không khí miệt vườn Tân Thới Nhất mát rượi, thoang thoảng mùi ngai ngái nồng đượm của đất phù sa vừa no nước.

Gà chêm lứa trong xóm vừa cất tiếng gáy le te, Trọng Tấn đã trở dậy. Chàng trai vắt chiếc khăn rằn lên vai, cầm chiếc cào con định bụng ra nạo vét lại mấy rãnh thoát nước mé sau hè. Thế nhưng, vừa bước qua ngạch cửa, Tấn thoáng sững sờ khi nhìn thấy ngoài bờ liếp đã có bóng người lom khom làm lụng.

Đó là chú Ba Khiêm. Chiếc áo sơ mi trắng kiểu cách thị thành mọi khi đã được cởi bỏ, thay bằng bộ bà ba vải ú đen cũ kỹ của anh hai Trọng Nam để lại. Ống quần được y vén cao quá gối, buộc chặt bằng hai cọng chuối khô. Đôi bàn chân trắng bệch ngày nào giờ lấm lem bùn đất, đang cẩn thận lách từng ngón tay nhổ sạch những bụi cỏ chỉ, cỏ gấu mọc quanh gốc nọc trầu. Lưng áo y ướt đẫm mồ hôi quyện cùng hơi sương sớm.

Nghe tiếng bước chân lạo xạo trên lối sỏi, Khiêm giật mình ngẩng lên. Thấy đứa cháu ruột đứng sững nhìn mình, y thoáng bối rối, đưa bàn tay sạm đất quẹt vội vệt mồ hôi trên trán, gượng gạo cất tiếng “Tấn hả con? Chú... chú dậy sớm, thấy cỏ chân nọc tốt quá nên tiện tay nhổ bớt, đặng lát nữa nước rút thì rễ trầu dễ thở.”

Tấn bước nhanh lại gần, nhìn bờ liếp sạch bong cỏ dại kéo dài cả chục thước nọc cau mà lòng dâng lên niềm xúc động khó tả. Cơn giận đêm trước dường như tan biến theo làn sương sớm. Chàng trai đặt chiếc cào con xuống bờ đất, ngồi xổm xuống đối diện chú mình, giọng hiền hòa “Chú Ba dậy sớm dữ hôn. Đất sau mưa dầm mềm nhão, nhổ cỏ phải lựa khéo kẻo trốc nhằm rễ tơ của trầu nghen chú.”

Khiêm gật đầu lia lịa, ánh mắt lộ vẻ hối lỗi “Ừ, chú nhớ rồi. Hồi mười mấy tuổi theo cha mầy với nội ra vườn, chú cũng từng làm mà... Tại bao năm ham vui chốn chợ búa, tay chân hóa lóng ngóng, hư hỏng hết cả.”

Thấy chú rụt rè nhắc lại chuyện xưa, Tấn khẽ mỉm cười, vừa thoăn thoắt nhổ bụi cỏ mần trầu vừa gợi chuyện “Hồi nhỏ con nhớ ba con kể, trong mấy anh em, chú Ba là người trèo cau lẹ nhứt xứ này, lại biết nhìn đọt trầu đoán con nước. Giờ vườn nhà mình đang cữ ngậm phân non, chỉ ngặt nỗi đám thương lái ngoài chợ ép giá dữ quá. Họ dìm giá trầu rớt còn non nửa, lại phao tin rầy dịch hòng gom vườn. Con tính đợt này chuốt sọt cho dày, kiếm bẹ chuối tươi ủ quanh cho lá khỏi dập, rồi mượn ghe tam bản chở thẳng trầu hương vượt rạch Bến Cát ra chợ Bình Tây bán mối sỉ. Không qua tay lái buôn, mình mới mong gom đủ trăm đồng bạc Con Cò chuộc giấy thuế đất về trước cữ cưới tháng Một.”

Nghe Tấn nhắc đến món nợ một trăm đồng bạc Đông Dương cùng kế hoạch đưa trầu ra chợ lớn, đôi mắt thâm quầng của Khiêm ánh lên vẻ thán phục, rồi lại chùng xuống đầy ân hận “Mầy tháo vát giống hệt ba mầy hồi xưa... Nghĩ lại chú thấy mình hèn quá. Hồi trạc tuổi mầy, chú cũng từng xuôi ghe tam bản chở cau tươi xuống tận Cần Thơ, Bến Tre bán tết. Đường sông nước tuy nhọc nhằn nhưng đồng tiền kiếm ra đượm mồ hôi, cầm chắc nịch trong tay. Chú thề với lòng, từ rày về sau sẽ dốc trọn sức cùng mầy coi sóc liếp vườn, quyết không để một tấc đất tổ tiên lọt vô tay phường xảo quyệt.”

“Có chí làm lại thì đất không phụ lòng người đâu con.”

Một giọng nói trầm ấm, khoan thai cất lên từ sau rặng cau. Cụ Ba Hòa tay chống chiếc gậy tre già, bước từng bước chậm rãi nhưng vững chãi ra bờ liếp. Sắc mặt cụ đã hồng hào trở lại sau chén nước gừng đêm qua. Ánh mắt đôn hậu của ông lão bảy mươi tư tuổi nhìn chăm chú vào đôi bàn tay lấm bùn của đứa con trai lầm lỡ.

Khiêm vội đứng dậy, khoanh tay cúi đầu lí nhí “Dạ... ba mới ra.”Cụ Ba đưa tay vuốt chòm râu bạc, bước lại gần gốc cau cổ thụ bám đầy dây trầu hương xanh mướt. Cụ khẽ gõ nhẹ đầu gậy tre xuống mép bờ liếp, ôn tồn chỉ bảo “Mầy nhớ nghề xưa là tốt. Nhưng trầu mùa mưa dầm này nhạy cảm lắm. Nhìn nè Khiêm, mấy nhánh trầu vượt này đâm ngang rậm rạp, phải bấm bỏ ngay đặng cây dồn sức nuôi ngọn chính leo nọc cau. Còn bộ rễ tơ đang độ ăn bùn non, tuyệt đối không được giẫm chân sát gốc. Phải đợi trưa đứng gió, bùn se mặt mới lấy tro trấu ủ ấm chân nọc, rễ mới không thúi.”

Khiêm chăm chú lắng nghe từng lời cha dặn, cẩn thận đưa ngón tay cái bấm nhẹ một nhánh trầu vượt đúng như lời chỉ dạy. Nhìn hai cha con hòa thuận bên gốc nọc, Trọng Tấn mỉm cười rạng rỡ.

Đúng lúc đó, dưới bến rạch Cầu Tre vang lên tiếng khua dầm rộn rã. Chiếc xuồng ba lá lướt tới cập mé bờ dừa, tiếng cười hào sảng quen thuộc của bác Năm Đước vang vọng “Anh Ba ơi! Thằng Tấn có nhà không trút giùm tôi cái giỏ!”

Bước lên bờ là bác Năm Đước vạm vỡ, chiếc khăn rằn quấn ngang trán, theo sau là Út Duyên duyên dáng trong chiếc áo bà ba màu mỡ gà, hai tay bưng chiếc rổ sảo đậy lá chuối cẩn thận. Vừa thấy Ba Khiêm đứng bên bờ mương trong bộ đồ lao động lấm lem bùn đất, bác Năm thoáng ngạc nhiên, rồi đôi mắt rực sáng niềm vui “Ủa, chú Ba Khiêm bữa nay xắn quần lội mương thiệt đó đa! Coi bộ tướng làm vườn còn gân guốc lắm nghen!”

Út Duyên khẽ cúi đầu chào cụ Ba và chú Khiêm, rồi đưa mắt nhìn Trọng Tấn cười bẽn lẽn “Dạ, má con mới dỡ nồi bánh tét lá cẩm sớm mai, dặn con đem qua biếu cụ Ba với mấy chú ăn lót dạ lấy sức làm vườn.”

Tấn bước tới đỡ lấy rổ bánh, chạm phải ánh mắt trong veo của Duyên thì gãi đầu cười bẽn lẽn “Cảm ơn thím Năm với cô Út dữ nghen. Bánh lá cẩm thím Năm gói thì thơm dẻo nhứt xứ này rồi.”

Bác Năm Đước bước lại vỗ mạnh lên vai Ba Khiêm một cái thật đau, giọng nói bộc trực mà ấm áp tình làng nghĩa xóm “Chú Ba à! Người xứ mình trót lỡ bước lầm đường thì quay đầu lại, đất miệt vườn bao dung chưa từng chê trách ai. Thằng Biện Hùm nó cậy tiền, cậy thế ép giá, dọa siết đất, nhưng dân Mười Tám Thôn Vườn Trầu này đâu có dễ chịu khoanh tay! Chú cứ chí thú cùng anh Ba với thằng Tấn làm lụng, có túng thiếu công cán hay ghe xuồng gì, cứ ới một tiếng là tôi với bà con bên rạch xúm vô phụ liền. Tình làng nghĩa xóm đùm bọc nhau, sợ chi cái cữ khó này!”

Nghe những lời ruột để ngoài da của người bạn già thâm giao với cha, Khiêm nghẹn ngào chắp tay “Dạ... em đội ơn anh Năm. Em biết lỗi rồi, em quyết chí làm lại đặng giữ mảnh vườn cho cha cho cháu.”

Lời động viên chân tình của bác Năm Đước vừa dứt, không khí ấm áp bên liếp trầu còn chưa kịp lắng xuống thì ngoài ngã ba rạch bỗng vang lên tiếng la ó thất thanh “Bác Năm ơi! Cụ Ba ơi! Cứu với! Vạt trầu xóm dưới... đốm vàng lan tràn rụng lá tơi bời hết rồi!”

Bạn thích truyện này?

Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!

Hãy là người đầu tiên để lại đánh giá cho tác phẩm này.