Chương 16: Mùa Cưới Chạm Ngõ Vườn
Hồi chuông đồng hồ từ phía nhà việc làng Tân Thới Nhất vừa dứt tiếng ngân trầm, ngọn gió bấc se lạnh đầu mùa đã len lỏi qua từng rặng cau, mang theo hơi thở của mùa cưới hỏi rộn rã gõ cửa miệt vườn. Trọng Tấn đứng giữa bờ liếp, ngước nhìn vòm lá trầu đang ngậm trọn làn sương sớm lấp lánh như hạt ngọc. Nhờ lớp phù sa màu mỡ cùng bài thuốc ủ tro trấu và bột vỏ cua đồng mà ông nội chỉ dạy, sáu công đất vườn hương hỏa nhà họ Thân sau bao phen dầm dề mưa lũ nay đã hồi sinh rực rỡ. Cả một dải bờ bãi bừng lên màu xanh thẫm mượt mà, hòa cùng các liếp vườn chòm xóm kết thành một dải ngọc bích ngút ngàn. Trên những ngọn cau cao vút đón nắng sớm, từng buồng cau tơ trĩu chịt trái tròn lẳn, da bóng láng ngả màu xanh ngọc, sẵn sàng cho những mâm sính lễ trang trọng nhất.
Tấn cúi xuống nắn lại chiếc nài bện bằng vỏ dừa khô quen thuộc nơi cổ chân, nhét con dao nhỏ bén ngót vào dải lưng quần rồi ngẩng đầu nhìn lên chóp ngọn.
“Chú Ba ơi, con lên cây này nghen, chú ở dưới canh chừng giùm con!” Tấn cất tiếng gọi.
Ba Khiêm đứng phía dưới, hai tay cầm sẵn chiếc sọt tre lót rơm êm, gương mặt đã bớt đi vẻ khắc khổ ngày nào, cất giọng sang sảng “Cứ leo đi thằng Tấn! Chú Ba đứng ngay dưới gốc đón cho, liệu dây dừa chằng cho kỹ nghe mầy!”
Tấn thoăn thoắt nhún mình, hai bàn chân ghì chặt nài dừa ôm lấy thân cau sần sùi. Cậu nhanh nhẹn vươn người, chỉ trong chớp mắt đã trèo lên tít ngọn cau lộng gió. Đứng trên cao nhìn xuống, dòng rạch Cầu Tre uốn lượn hiền hòa, thấp thoáng những nếp nhà lá đơn sơ khói bếp bay la đà. Tấn cẩn thận luồn tay qua kẽ bẹ, ngắm đúng cuống buồng cau tơ tròn đều, lưỡi dao khẽ lia một đường ngọt xớt. Buồng cau nặng trịch buông xuống, được sợi dây thừng dài dòng từ từ hạ xuống đất. Ở bên dưới, Ba Khiêm cùng mấy thanh niên trong tổ vần công đón lấy nhẹ nhàng, tiếng reo cười râm ran xua tan cái lạnh buốt của buổi sớm tinh mơ.
Mé bờ mương bên kia, tiếng cười nói giòn tan của bác Năm Đước vang vọng lại “Thằng Tấn trèo cau khéo như sóc trèo cây vậy đa! Buồng nào buồng nấy quả đều tăm tắp, trầu cau xứ mình vụ này có tiếng vang khắp Lục tỉnh rồi!”
Tấn tụt xuống gốc cau, quẹt vệt mồ hôi rịn trên trán thì thấy Út Duyên đang cùng cha bưng đôi thúng tre sang phụ xếp trầu. Cô mặc chiếc áo bà ba màu hoa đào nền nã, mái tóc thắt bím gọn gàng sau lưng, trên đầu vẫn đội chiếc nón bằng lá buông quen thuộc. Nhác thấy Tấn nhìn, đôi gò má Út Duyên ửng hồng như trái cau chín tới. Cô ngồi bệt xuống manh chiếu trải cạnh gốc nọc trầu, đôi tay búp măng thoăn thoắt xếp từng lớp trầu hương tươi rói vào sọt theo đúng chỉ dẫn của cụ Ba Hòa. Tấn lén nhìn qua, thấy Út Duyên bẽn lẽn chọn riêng mấy phiến lá trầu cay nồng, cuống nhỏ, đều tắp để têm thử hình cánh phượng rồi khéo léo giấu nhẹm vào góc thúng. Bắt gặp ánh mắt ấm áp của Tấn đang chăm chú nhìn mình, Út Duyên giật mình cúi gầm mặt xuống, vành tai đỏ rực, giọng lí nhí “Anh Tấn coi chừng cắt buồng trúng nhánh non đó nghen, khéo mà làm dập mất vỏ buồng cau cưới người ta chê…”
Tấn gãi đầu cười xòa, lòng rộn ràng như có tiếng trống lân mở hội:“Tôi cắt cẩn thận lắm chớ, buồng này để dành kết mâm trầu sính lễ là đẹp hết ý!”
Mặt trời đứng bóng, con nước ròng bắt đầu chuyển sang nước lớn, bến rạch Cầu Tre bỗng chốc trở nên huyên náo lạ thường. Từng đoàn thuyền buôn từ khắp Lục tỉnh, từ tận Mỹ Tho, Bến Tre, Sa Đéc lũ lượt rẽ sóng kéo về bến sông cập bến. Tiếng hò dô, tiếng còi đồng cùng tiếng bạn hàng í ới ngã giá vang động cả một khúc sông. Trầu cau Tân Thới Nhất nức tiếng cay nồng, vỏ mỏng ruột dày, lại giữ được độ tươi giòn nhờ kỹ thuật ủ bẹ chuối hột nên được các chủ ghe tranh nhau thu mua với giá cao gấp đôi mọi năm. Từng sọt trầu xanh biếc, từng buồng cau trĩu hạt được khiêng lên khoang thuyền tấp nập, phá tan hoàn toàn âm mưu ép giá dìm hàng hòng thâu tóm đất của đám đồn điền cao su và tay sai bấy lâu nay.
Hoàng hôn dần buông, ánh chiều tà dát một màu vàng mật ong lên khắp nẻo đường làng. Tiếng cọt kẹt của đòn gánh gác lại sau một ngày tất bật, xóm vườn trở về với sự tĩnh lặng êm đềm vốn có.
Đêm ấy, sương muối giăng mờ trên những đọt cau cao vút. Gian nhà trên của cụ Ba Hòa sáng rực ánh đèn hoa kỳ ấm cúng. Bên chiếc bàn tròn gỗ gõ, ấm trà ngát hương hoa bưởi nồng nàn được cụ Ba thong thả rót ra những chiếc tách sành da lươn.
Trọng Tấn đem chiếc tráp thiếc đặt ngay ngắn lên mặt bàn, mở nắp ra. Những đồng bạc Con Cò bằng bạc trắng sáng loáng, phẳng phiu xếp ngay ngắn thành từng cọc mười đồng. Tấn vừa đếm vừa so từng cọc trước sự chứng kiến của ông nội và chú Ba Khiêm “Thưa nội, đây là tiền bán đợt trầu tơ hôm nay của liếp nhà mình cùng với tiền công phụ vần công suốt nửa tháng qua. Con gom lại đếm kỹ rồi, trừ hết phần chia cho bạn hàng và bạn vườn, phần của nhà mình vừa vặn được một trăm lẻ lăm đồng bạc Đông Dương!”
Cụ Ba Hòa run run đặt tách trà xuống đĩa, đôi mắt ánh lên niềm xúc động sâu xa. Cụ đưa bàn tay gầy gò nứt nẻ lướt qua từng cọc bạc trắng lạnh ngắt nhưng chứa chan bao mồ hôi nước mắt của ba đời gìn giữ mảnh đất miệt vườn. Ba Khiêm ngồi bên cạnh, hai bờ vai run lên bần bật, đôi môi mím chặt cố nén tiếng nấc nghẹn ngào. Cuối cùng, món nợ nghiệt ngã suýt cướp đi mảnh vườn hương hỏa đã có thể trả dứt điểm bằng chính giọt mồ hôi chân chính của nghề nông.
“Tốt lắm… Trời phật không phụ lòng người ngay thẳng…” Cụ Ba Hòa thở dài một hơi nhẹ nhõm, giọng trầm ấm lan tỏa khắp gian nhà.
Cả nhà chưa kịp cất lời mừng rỡ thì bên ngoài ngõ trúc, tiếng gậy batoong gỗ mun bịt bạc bỗng nện cộc cộc xuống mặt đường đá dăm mỗi lúc một gần. Tiếp theo đó là tiếng hắng giọng lạnh băng, the thé quen thuộc của Biện Hùm cất lên giữa màn đêm tĩnh mịch “Cụ Ba Hòa có nhà không đó? Hạn bốn tháng cữ tháng Một âm lịch đã điểm rồi nghe!”
Bạn thích truyện này?
Hãy đánh giá truyện này để giúp Moier khác tìm kiếm truyện dễ dàng và có thêm đồng bọn đọc cùng!
